B̀NH PHƯỚC:

Tỉnh  cuối Trường Sơn, yếu huyệt biên cương phía Nam  chống đở “mái nhà Tây Nguyên”, vùng nhóm cây công nghệ lâu năm nhiệt đới  thị trường xuất khẩu quốc tế rộng lớn, phát triễn bảo vệ  Sài G̣n phía Tây, như Bà Rịa-Vũng Tàu phía biển Đông.  

GS Tôn Thất Tŕnh

 

B́nh Phước là một tỉnh miền núi của vùng Đông Nam Phần (Nam Bộ), đông giáp Lâm Đồng và Đồng Nai, Tây giáp Tây Ninh và Campuchia (240 km giáp ranh Campuchia, trong tổng số  biên giới Việt Miên là 1270 km - 790 dặm Anh ), Nam giáp B́nh Dương, Bắc giáp Đắc Lắc và Cam puchia. Diện tích 6855,99 km2 là tỉnh lớn nhất miền Đông Nam Bộ.

Tháng 2 năm 2003, chánh phủ  thành lập các huyện Chơn Thành, Bù Đông. Như vậy hiện nay B́nh Phước có 7 huyện: Lộc Ninh, B́nh Long (An Lộc), Đồng Phú, Bù Đông, Chơn Thành, Phước Long (Thác Mơ),  Bù Đăng (Đức Phong) và thị xă Đồng Xoài, tỉnh lỵ B́nh Phước. Dân số  năm 2007 khoảng 815 000  là tỉnh tỉ trọng dân số thấp nhất  miền Đông Nam Bộ . Đa số  tộc dân  Kinh ( thuộc họ Nam Á nhóm tộc dân Việt Mường), qua ba đợt di dân lớn ; đợt thứ nhất từ thời các chúa  Nguyễn với dân  Huế - Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi…; đợt thứ hai với dân mộ phu mở mang các đồn điền - công ty cao su  Pháp,  từ các các tỉnh Thái B́nh -Nam Định…, đợt thứ ba với dân lên làm dinh điền thời Đê Nhất Cộng Ḥa  miền Nam . Các tộc dân thiểu số chiếm chừng 17 % (gần 140 000 người). Đông nhất là tộc dân Stiêng (họ Nam Á nhưng thuộc nhóm Môn- Khmer chừng 40 000 người, các tộc dân  Mạ, Cho Ro( Châu  Ro), M’Nông cũng thuộc nhóm Môn - Khmer (cả ba tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng , B́nh Phước chừng  46 000 người), các tộc dân Chăm, Chu Ru, Raglai  họ Nam Đảo, thứ đến là Hoa (Việt gốc Tàu, thuộc họ Hán - Tạng, nhóm  Hoa - Hán), Khmer (Miên), Tày,  Nùng, Dao  ….   

Chút ít lịch sử

Đất tiểu quốc Che Mạ, nước độn giữa Vương Quốc Quảng Nam (xứ Đàng Trong) và đất Thủy Chân Lạp (đồng bằng sông Cửu Long , sông Vàm Cỏ?)

Từ thế kỷ thứ 17, đă có nhiều người Việt đến hai xứ Đồng Nai  (Biên Ḥa) và  Mỗi Xuy (Bà Rịa) vỡ đất làm ruộng. Theo B. Bourotte nhà sử học Pháp (Essai d’ histoire des populations  montagnardes du Sud Indochinois), ở khoảng giữa nước Chiêm Thành và nước Chân Lạp có một tiểu quốc  gọi là nước Che  Mạ (Thượng hay Mọi  theo tên gọi trước đây) tại vùng Biên Ḥa - Mỗi Xuy, tương tự các tiểu quốc phía Bắc , tộc dân Jarai  thống trị  ở phía Tây tỉnh Phú Yên,  vùng núi Bà Nam là  Thủy Xá (Đôn Vương)  phía Đông và Hỏa Xá (Nga Vương) phía Tây. Người Che Mạ di cư từ đồng bằng hạ lưu sông Đồng Nai và sông Cửu Long , dưới quyền nước Phù Nam, nhưng không chịu  thần phục chế độ Phù Nam nên  tới sinh sống ở vùng hoang vu, rừng rậm, thung lũng lầy lội, động cát, ngọn đồi lẽ tẽ  trung lưu và hạ lưu sông Đồng Nai. Nước Che Mạ có nhiều nhánh, Chu Ru hay Trau ở phía tây B́nh Thuận, Mạ, Cop, Che Srê, Che Tô, Koho, Lạt).  Sau khi Chân Lạp (Kambuja, tiền thân Kampuchia, nguyên là một tộc dân Bắc Phù Nam ở Sambor) thay Phù Nam, tiểu quốc Che Mạ thần thuộc Chân Lạp, nhưng vẫn tự chủ. Thế lực nước Che Mạ  lan rộng sang Tây Nam  đến lưu vực sông Là Ngà, phía Bắc lên đến  cao nguyên Di Linh  và cao nguyên Lang Bian (Đà Lạt).

Năm 1708,  đời chúa  Minh Nguyễn Phước Chu đă sai Câu Kê dinh Quảng Nam là Ḥa Đức (không rỏ họ) đem quân đi đánh Ác Man Bà - Rịa, người Che  Mạ, cướp bóc dân biên thùy Việt Nam. Thật tế, năm 1620, chúa Sải Nguyễn Phúc Nguyên  đă gă  con gái, công nương Ngọc Vạn, cho vua Chân Lạp Chey Chetta II,  đóng đô ở U Đông (Oudong) gần Nam Vang - Phnom Penh ngày nay, v́ Chân Lạp đang muốn chống lại lân bang nguy hiểm là Tiêm (Xiêm) La (Thái Lan). Công nương Ngọc Vạn, ḥang hậu  Chân Lạp năm 1623  là người lập công đầu Nam tiến vào  vùng đất Chân Lạp bảo hộ lỏng lẽo, mở rộng đất đai từ biên giới Chiêm Thành , B́nh Thuận ( Phan Thiết) đến mũi Cà Mau - Côn Sơn, Trường Sa biển Đông , Phú Quốc, Thổ Chu biển Tây. Năm 1623,  nhờ bà Ngọc Vạn,  chúa Nguyễn  đă  được vua Chey Chetta  cho lập  cơ sở thu thuế và đóng đồn ở Prey Kor (Rừng Cây G̣n)  và cho di dân người Việt  đến khai thác  đất đai ở  Đồng Nai, Mỗi Xuy , trên đất  Che Mạ, Chân Lạp bảo hộ trên danh nghĩa  thay thế Phù Nam. Tên  Sài G̣n h́nh như là phiên âm tên Miên Prey Kor ra tiếng Việt là Rừng Củi G̣n (Sài là Củi) vào thời vua Gia Long (?). Năm 1658, sau khi So và  Ang Tan con  phụ chánh Préah Outey, em vua Chân Lạp  Ang Non I  bị Nặc ông Chân  giết chết đọat ngôi vua, theo lời khuyên của bà Ngọc Vạn, cầu cứu  triều đ́nh Thuận Hóa,  chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn sai Phó tướng dinh Trấn Biên (lúc đó  là dinh Phú Yên)  Nguyễn Phước Yến, đem 3000 quân,  đánh  chiếm thành Hưng Phước (Mỗi  Xuy - Bà Rịa), bắt được Nặc Ông Chân đóng cũi đem về nạp chúa ở Quảng B́nh, nơi chúa Nghĩa đang đóng quân Đàng Trong, xem xét việc quân đánh nhau với chúa Trịnh. Công lao bà Ngoc Vạn c̣n to lớn hơn công lao công chúa Huyền Trân nhiều (xem tài liệu của Tôn thất Thiện: Các chúa Nguyễn Xứ Đàng Trong và Việt Nam ngày nay, Ḍng Việt số 14/2003), nhưng dân Huế và dân  Sài G̣n, miền Nam (tuy rất nhiều người Nam  nhớ ơn công lao các chúa Nguyễn và công nương Ngọc Vạn) lại không lập đền thờ, ca tụng  công nương, ḥang hậu, thái hậu Ngọc Vạn! Chỉ biết tôn thờ nhớ ơn công chúa Huyền Trân! 

Một huyện dinh Trấn Biên vào cuối thế kỷ thứ 17.

Năm  1679, Chúa Nghĩa  biên thư cho vua Chân Lạp yêu cầu cấp đất đai  Đông Phố  cho binh tướng  Long Môn (một huyện phủ Quảng Châu tỉnh Quảng Đông) Dương Ngạn Địch  và binh tướng  Cao Lôi Liêm  (Cao châu, Lôi châu và Liêm châu là ba phủ  cũng thuộc tỉnh Quảng Đông) Trần Thượng Xuyên. Binh tướng Trần Thượng Xuyên  tập trung ở Đại phố châu (Cù lao Phố), giữa sông Nông Năi (Đồng Nai), phía nam tỉnh lỵ Biên Ḥa. Cù lao Phố trở thành một  trung tâm điểm buôn  bán phồn thịnh với  người Âu Châu, Nhật, Mă Lai , Tàu … của xứ Nam Kỳ, cho đến ngày  Tây Sơn vào chiếm, giết dân Hoa, phá tan tành Cù Lao Phố, v́  cho là người Hoa  vùng này đă ủng hộ chúa Nguyễn Phước, giết mất pḥ mă của vua Thái Đức - Nguyễn Nhạc nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm 1698, chúa Minh sai Thống Xuất Nguyễn Hửu Kính  vào kinh lược, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai (người Tàu gọi là Nông Nại), đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (tỉnh Đồng Nai - Biên Ḥa ngày nay), lấy xứ Sài Côn  đặt huyện Tân B́nh, lập dinh  Phiên Trấn  (Gia Định). 

Hai tỉnh cũ thời Đệ Nhất Cộng Ḥa  nhập lại thành tỉnh B́nh Phước.

Năm 1778, ở Sài Côn,  các tướng tôn Nguyễn Phước Ánh, mới 17 tuổi, làm Đại Nguyên Súy - Nhiếp Quốc Chính. Đại Nguyên Súy tổ chức lại việc cai trị đất Gia Định. Năm 1779, chia vạch  địa giới 3 dinh: Trấn Biên (tỉnh Biên Ḥa - Đồng Nai ngày nay), Phiên Trấn (tỉnh Gia Định và Định Tường - Mỹ Tho), Long Hồ (hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long). Dinh Trấn Biên chỉ  có một huyện là Phước Long gồm 4 tổng là Tân  Chính,  B́nh An , Long Thành và Phước An.Thời  các vua Minh Mạng và Tự Đức, xứ Nam Kỳ  mới  có 6 tỉnh, thay v́ 5 trấn (tỉnh) thời vua Gia Long, trong đó có tỉnh Biên Ḥa.  Khi Pháp chiếm  lục tỉnh Nam Kỳ  các năm 1857- 59,  thọat tiên Pháp đặt cai trị ở  4 vùng là Sài G̣n, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc - Bassac. B́nh Phước thuộc vùng Sài G̣n. Sau năm 1898, Pháp chia đất Nam Kỳ thành 21 tỉnh. B́nh Phước thuộc tỉnh Biên Ḥa và Thủ Dầu Một. Thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, 1956-57,  lập thêm các tỉnh là Phước Long, B́nh Long, Phước Thành, Long Khánh và B́nh Dương (nguyên là tỉnh Thủ Dầu Một, một trong 21 tỉnh Nam Kỳ thời Pháp thuộc). Các năm 1997-2003 , hai tỉnh cũ là Phước Long và B́nh Long nhập lại thành tỉnh B́nh Phước ngày nay, sau khi  đổi tên thành  tỉnh Sông Bé và tỉnh Biên Ḥa nhập  với tỉnh Long Khánh thành tỉnh Đồng Nai. 

Địa h́nh

Địa h́nh B́nh Phước là  cao nguyên đồi núi  ở phía Bắc và Đông Bắc, nhưng thấp dần về phía Tây và Tây Nam. Cao độ trung b́nh 50-150m. Trong huyện Phước Long , có núi Bà Rá nhô lên cao 736 m. Thời  thế chiến thứ II, vùng núi Bà Rà là nơi Pháp giam cầm những phần tử quốc gia miền Nam, muốn ngă theo Nhật chống Pháp.Thời Đệ Nhất Cọng Ḥa có dự tính lập thủ phủ miền Nam  ở vùng quanh  núi Bà Rá, thay cho Sài G̣n qúa đông đúc, nóng nực. Năm 2004, chánh phủ  tập trung xây dựng khu du lịch Bà Rá -Thác Mơ, làm 18km đường quanh núi và   đầu tư làm cáp treo lên đỉnh núi. Ng̣ai núi Bà Rá, các danh lam thắng cảnh thiên nhiên khác là hồ Suối Cam, hồ Suối Lam, trảng cỏ Bàu Lạch.  Sóc Xiêm cách thành phố Sài G̣n 120 km  là một  thắng cảnh săn bắn , hồ nước xanh trong, và rừng  thác  ở nơi cao, đồng thời cũng là  nơi có thể quan sát  văn hóa , phong tục tập quán tộc dân  Stiêng. Tuy nhiên, nay B́nh Phước đă có 83 % người tộc dân Kinh, tưỏng ngành du lịch B́nh Phước cũng nên chú trọng hơn, ng̣ai các lễ hội thu hút du khách  như lễ hội mưa tộc dân Stiêng, tộc dân Mạ , lễ cúng cơm mới tộc dân Khmer, lễ chọi trâu Mnong (?), những lễ hội nông nghiệp mới tộc dân Kinh, như lễ hội cao su, thu hoach hột điều, thu họach tiêu như Đắc Lắc đă làm với lễ hội cà phê  Ban Mê Thuột. Hay lễ hội tỏi Gilroy gần thành phố San José, Bắc Ca Li - Hoa Kỳ.            

Thủy văn và các đập thủy điện

Hai sông lớn chảy ngang qua B́nh Phước, chia tỉnh ra  làm nhiều khu vưc. Sông Đồng Nai là sông dài nhất chảy trong lảnh thổ Việt Nam, tuy chỉ dài có  635 km. Nếu chỉ kể chiều dài chảy trong  nước nhà, Sông Hồng dài thứ hai, 566km và sông Mă (Thanh Hóa)  410 km. Nhưng lưu vực  ṭan bộ sông Đồng Nai  chỉ rộng 42 666 km2,  trong khi lưu vực toàn bộ  hệ thống sông Mê Kông (Cửu Long) rộng đến 795 000 km2, dù chiều dài trong nước cũng chỉ có  230 km. Lưu vực  trong nước của sông Mê Kông cũng lớn hơn (v́ kể  thêm Tây Nguyên)  lưu vực hệ thống sông Đồng Nai,  71 000 km2  so  với  37 394 km2 . Sông Đồng Nai  lưu lượng 485 m3 /giây,  có nhiều phụ lưu lớn là sông Là Ngà, sông Bé và sông Sài G̣n. Sông Bé là nhánh sông bên phải của sông Đồng Nai, phát nguyên từ cao nguyên Mnong - Mạ thuộc tỉnh Đắc Nông, chiều dài  360 km, phần lớn chảy ngang qua tỉnh B́nh Phước (nên năm 1976 có tên là tỉnh Sông Bé), đổ vào sông Đồng Nai ở phía dưới thác Trị An. Lưu vực sông Bé là 7 170km2, lưu lượng trung b́nh là 264 m3 /giây ở Phước Ḥa.

B́nh Phước đă thiết lập xong nhà máy thủy điện Thác Mơ ở huyện Phước Long phía Bắc núi Bà Rá, công xuất thiết kế là 150 000 kw, nhà máy Cần Đơn 72 000 kw ( đang xây dựng ) và nhà máy  Sóc (Srok) Phú Miêng  51 000 kw. Thủy điện Thác Mơ  đă được nối mạng đường  dây điện cao thế 500 kv  Bắc - Nam đi qua tỉnh nhà. Tuy nhiên trong tương lai, muốn có thêm điện, nước B́nh Phước phải cộng tác với Cam Bốt phát triễn hệ thống chi nhánh sông Mê Kông.       

Khí hậu  và sử dụng đất đai  

B́nh Phước nằm trong  vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa . Có 2 mùa rỏ rệt mùa mưa và khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ  tháng 11 đến tháng 4. Vũ lượng trung b́nh là 2110mm.  Ẩm độ ở rừng  phía Băc tỉnh  thường ít hơn ở phía Nam. Nhiệt độ b́nh quân trong năm cao đều, ổn định từ 25.8 o C - 26.2 o C.       

Tổng diện tích tự nhiên, theo bộ khoa học và công nghệ (3/12009), tỉnh B́nh Phước là 688 200 ha (?).Trong đó đất nông nghiệp là 633766 ha, chiếm 92.6 %  gồm đất sản xuất nông nghiệp 294 540 ha , đất lâm nghiệp 337 469 ha , đất nuôi trồng thủy sản 1625 ha, đất nông nghiệp khác 132 ha. Đất phi nông nghiệp  53 252 ha, chiếm 7. 74 %, đất chưa sử dụng chiếm 1262 ha hay 0.18 %. B́nh Phước có 7 nhóm đất chính, phân  chia thành 13 lọai đất. Phần lớn là đất đỏ (nâu đỏ) nhóm ferralsols  ở Lộc Ninh, Phú Riềng; đất đen trên  đá basan (basalt) nhóm Luvisols;  đất xám trên phù sa cổ sinh là lọai đất nghèo hửu cơ, nghèo dinh dưởng… (ít  so với Tây Ninh, B́nh Dương, Đồng Nai)  thuộc nhóm Acrisols    đất  phù sa ven các ḍng sông Đồng Nai và sông Bé.

Cao su, hột điều, cà phê, tiêu là ṇng cốt cây công nghiệp lâu năm của B́nh Phuớc, nhưng tương lai có thể thêm ca cao, cây ăn trái nhiệt đới hay đôi chút cận (bán hay phụ) ôn đới (đồi  núi phía Bắc,  kế cận  Đắc Nông, Lâm Đồng).

Cao su thiên nhiên

B́nh Phước là một trong 3 tỉnh đầu sổ Việt Nam về diện tích trồng cao su. Năm 1976 , riêng công ty B́nh Long đă có 15 000 ha cao su. Tháng 12/2008, theoTổng cục địa chánh (cũ) báo cáo lên Bộ Tài nguyên  và Môi trường, B́nh Phước đă có 54 659 ha cao su thuộc 4 công ty của Tổng Công ty Cao su Việt Nam - Geruco. Chưa kể diện tích tiểu điền cao su, theo thống kê  năm 2008 cả nước đă trên 253 000 ha, hơn 80 000 tiểu điền chủ,  đem lại đời sống sung túc cho 500 000 người. Phân nữa tổng số hơn 500 000 ha cao su  ước lượng đă trồng được ở Việt Nam, năm 2008. Phần lớn caosu B́nh Phước, ước lượng năm 2008 chừng 120 000 ha, trồng  trên đất đỏ giàu, chất lượng dinh dưỡng và  hửu cơ tương đối cao mà ước lượng ṭan miền Đông Nam Bộ lên đến  547 000 ha. Tỉnh B́nh Phước có đến 420 000 ha lọai đất đỏ này. V́ thế mà năng xuất cao su thiên nhiên B́nh Phước có thể cao hơn Tây Ninh, phần lớn trồng  trên đất xám, ít màu mỡ hơn đất đỏ. Sản lượng cao su B́nh Phước có thể đứng hàng đầu Việt Nam, đă trên 93-99 000 tấn  nếu chỉ kể các công ty thuộc Geruco, trong tổng số  780 000  tấn ,Việt Nam ước lượng sản xuất năm 2008, trị giá xuất khẩu trên 1.5 tỉ đô la Mỹ. Năng xuất cao su B́nh Phước  c̣n có thể cao hơn. Nếu  trồng thêm hay trồng lại những vườn cao su già cỗi  các công ty quốc doanh, tháp với các tinh ḍng cao năng mới RRIM chẳng hạn, nhóm cao năng năng xuất 2000- 3000 kg/ ha mũ khô một năm.

Geruco cho biết là không c̣n đất cấp, hầu thực hiện chương tŕnh 700 000 ha  cao su,  dự tính cho năm 2010 và 1 triệu ha cho năm 2015.  Chương tŕnh 1 triệu ha cao su cả  công ty đồn điền  lẫn tiểu điền  cho  miền NamViệt Nam , đă được phát họa từ các năm 1958 - 63, nhưng bị gián đọan v́ chiến tranh tương tàn Nam Bắc ở miền Nam, khốc liệt ở tỉnh B́nh Phước (An Lộc, Lộc Ninh, Phước B́nh, Phước Long - Thác Mơ…). Năm 1984, chương tŕnh 1 triệu ha lại  được Nga Sô khuyến  cáo tiếp tục  ở Việt Nam,  cả Bắc lẫn Nam và trên Tây Nguyên, nhưng cũng lại gián đọan vào thập niên 1990, khi Nga Sô sụp đổ. Chương tŕnh này c̣n thua xa Thái Lan, nay là nước đứng hạng nhất về cao su thiên nhiên, trên hẳn Mă lai Á và Inđônexia, đă nhân cơ hội Việt Nam măi lo chiến tranh, tăng diện tích cao su lên  trên 2 triệu ha, sản xuất 3 triệu tấn mũ cao su đủ lọai, xuất khẩu 2. 7 triệu tấn, chế biến công nghệ trong nước 300 000 tấn. Nhờ sự đầu tư  mạnh mẽ  của tư bản Mă Lai, Singapore, Thái Lan ở ngành trồng tĩa và của tư bản  Đức, Vương quốc Anh (U.K), Ư và Hoa Kỳ ở ngành công nghệ chế biến cao su thiên nhiên.

Một trong những hướng phát triễn cao su B́nh Phước, cũng như  ṭan cơi Việt Nam, là tổ chức phân công giữa các công ty quốc doanh thuộc Geruco và chương tŕnh phát triễn tiểu điền cao su. Tiểu điền lo về mặt trồng tĩa, cạo mũ. C̣n Geruco lo hướng dẫn cải thiện  sản xuất, đặc biệt là thí nghiệm các giống mới cao năng, siêu năng , lập  vườn gỗ tháp cung cấp các giống tinh ḍng này hay các ḍng cao su  vừa cho năng xuất cao vừa làm gỗ tốt  khi già cỗi, và mọi phương diện chuyên chở, chế biến mũ cạo xuất khẩu. Như vậy sẽ tăng năng xuất cao su tiểu điền, hiện nay c̣n thấp kém, v́ tiểu điền chỉ phần lớn trồng các  giống sa cạ, không tháp tinh ḍng cao năng. Tiểu điền có cơ hội đa canh  hay luân canh với những cây công nghiệp lâu năm khác như cà phê , hột điều ( đào lộn hột ), tiêu, cây ăn trái và ngay cả các cây lương thực nữa, giữa các hàng cao su như bắp (ngô), khoai ḿ (sắn), đổ (đậu), khoai lang, rau hoa. Hay nuôi gia súc giữa các hàng  cao su trưởng thành đang cạo mũ. Theo những khế ước phân chia nhiệm vụ, đă thành công ở một vài nơi kể cả các đồng bào  tộc dân “Thượng“ Tây Nguyên như Krong Buk, tỉnh Đắc Lắc chẳng hạn.

Hột điều

Người Pháp, vào thập niên 1940- 50, đă thí nghiệm ở gần núi Bà Rá, cây hột điều - cashew nut, noix de cajou , nhưng không phát triễn đại trà như cao su. Chỉ vài trăm gia đ́nh Việt (Kinh ) trồng vài trăm ha hột điều ở Tây Ninh. Năm 1999,  B́nh Phước  đă trồng được 64 830 ha hột điều, trên tổng số ṭan cỏi Việt Nam là 185 000 ha .Nhưng  năm đó, mức sản xuất nhân hột điều mới đạt 9567 tấn, trên tổng số 35 000 tấn cho Việt Nam. Năm 2005, B́nh Phước trồng được 115 000 ha hột điều, sản xuất 139 000 tấn nhân diện tích  320 000 ha  và mức sản xuất  235 000 tấn cho ṭan cơi Việt Nam . Theo hiệp hội VINACAS, Việt Nam đă trồng được năm 2008, 400 000 ha hột điều và  dự tính trồng  đến 500 000 ha  năm 2010. Diện tích trồng hột điều năm 2008 ở B́nh Phước  170 000 ha. Năm 2007, Việt Nam  đă xuất khẩu 650 triệu đô la Mỹ  nhân hột điều. Năm 2008, xuất khẩu gần 170 000 tấn nhân hột điều,  trị giá 940 triệu đô la Mỹ, tuy rằng  dự tính cho năm 2008  chỉ vào khỏang 680 triệu mà thôi.  Năm 2009, Việt Nam ước lượng sẽ xuất khẩu 190 000 tấn nhân, trị gía khỏang 1.05 tỉ. Trái lại,Việt Nam đă phải nhập cảng từ  các nước Phi Châu (Mozambique, Tanzania, đáng tiếc là chưa mua được ở Guinée - Bissau, một nước Tây Phi sản xuất nhiều nguyên liệu hột điều tốt) Inđônêxia và Cam Bốt,  khỏang chừng  150 000-  250 000 tấn hột nguyên liệu mỗi năm, để đốt vỏ hột, trích nhân ở các nhà máy nước nhà, thỏa măn khế ước xuất khẩu đă kư kết. Hai nước mua nhiều nhân hột điều Việt Nam là Hoa Kỳ (41%), Trung Quốc (21 %); kế đến là Úc, Hà Lan, Anh, Canada, Nga, Ư và Nhật. Việt Nam  cần cải thiện cơ chế tài chánh, thương măi,  b́nh ổn thăng trầm giá quốc tế và quốc nội, khi giá quốc tế hạ, giúp đở  cấp vốn nhẹ lăi,  thu mua , bớt thuế…. để các nhà máy chế biến khỏi đóng cửa; tăng cường hệ thống khuyến nông như phổ biến các giống hay  tháp tinh ḍng cao năng  đă  tuyễn chọn trong nước  hay thí nghiệm  thành công những du nhập mới  từ Ấn Độ, Brasil, đến tận làng xă . Cộng tác với Lào, Miên tăng gia sản xuất hột điều tại hai quốc gia này, chắc chắn sẽ cũng cố ngành xuất khẩu này trong tương lai, khỏi nhập cảng nguyên liệu thường  kém phẩm giá từ Phi Châu, những năm gần đây.

Tiêu, cà phê vối  và ca cao

Tiêu là một sản phẩm quan trọng của B́nh Phước. Các năm 1955- 60, chỉ có một vườn tiêu ở gần Lộc Ninh trên đất đỏ. Nhưng đến năm 2005, B́nh Phước đă trồng được 13 500 ha giống tuyễn chọn cải thiện và kỷ thuật trụ xi măng chống giây tiêu thay  nọc gỗ cây chết hay cây sống xưa cũ. Cả  nước năm đó chỉ trồng được 52 500 ha.  B́nh Phước dẫn đầu về diện tích trồng tiêu, hơn  hẳn  các vùng tiêu mới: Đắc Lắc, Gia Lai, Đồng Nai hay cỗ truyền Bà Rịa- Vũng Tàu, Phú Quốc, Quảng Trị (Vĩnh Linh…), Hà Tiên. Năng xuất   trên 2 tấn/ha và  xuất khẩu 110 000 tấn tiêu trắng (tiêu sọ) và tiêu đen, trị giá 152 triệu đô la. Nhưng năm  2007 - 2008 , các vườn tiêu bị bệnh và thời tiết làm thất mùa,  B́nh Phước chỉ c̣n 12 330 ha. Năm 2007, Việt Nam chỉ xuất khẩu 83 000 tấn và năm 2008,  87 000 tấn  thay v́  117 000 tấn, năm 2006. Tuy nhiên, vẫn  c̣n duy tŕ hạng nhất xuất khẩu tiêu  thế giới, trên hẳn Ấn Độ, Brasil và Inđônexia, đạt được từ năm 2003 nhờ xuất khẩu  82 000 tấn. Việt Nam cần cố gắng phục hồi lại mức khẩu xuất tiêu  của năm 2006, bằng cách tăng cường khảo cứu, tuyễn chọn các giống kháng bệnh,  cải tiến cách thu họach và sấy tiêu … ở B́nh Phước , và ở các tỉnh Tây Nguyên Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai.

Cà phê  vối - robusta B́nh Phước  cũng bị thăng trầm, điêu đứng như cà phê vối Đắc Nông , Lâm Đồng , Đắc Lắc, những năm giá quốc tế hạ, có khuynh hướng thặng dư cà phê vối,  lọai cà phê miền nhiệt đới, giá bán rẽ  hơn cà  phê chè Arabica bán nhiệt đới là cà phê thích hợp  vùng đồi núi cao hơn hay ở các tỉnh miền Bắc xa xích đạo hơn, nhưng khó trồng hơn và bị bệnh rỉ lá, sung đục thân cành. Cà phê vối đă được du nhập vào trồng  thử ở Việt Nam  từ năm 1857, nghĩa là đă hơn 150 năm rồi. Trước thập niên 1975, cà phê vối gần như duy nhất chỉ  phát triễn ở hai đồn điền-công ty tư bản Pháp tỉnh  Đắc Lắc (CHPI và CADA do ngân hàng Đông Dương -Đông Pháp tài trợ), diện tích chừng 5-6 000 ha, dùng nhân công tộc dân Thượng địa phương, v́ Pháp giới hạn người Kinh hay các tộc dân khác lên khai thác, mở mang Tây Nguyên.  Măi vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, dân tiểu điền Viêt Nam mới phát triễn cà phê vối ở gần Ban Mê Thuột.với những kỷ thuật tưới nước đăc thù cho cà phê, cứu mùa hoa nở khỏi rụng hết, không đậu trái,  khi nắng hạn. Năm 1975,  tổng diện tích cà phê cả  hai miền Nam - Bắc khỏang 20 000 ha, sản xuất 5 -7000 tấn nhân hột xanh - green beans. Năng xuất trên đất đai, bón phân hóa học và tưới nước  mưa phùn có thể lên 3-4 tấn/ ha, có khi  5 tấn/ ha  tại nhiều tiểu điền giỏi chăm sóc, bón phân hóa học, tưới tiêu. Tuy cũng bị khó khăn v́ thặng dư sản xuất và thăng trầm gíá cả nhiều năm qua,  năm 2008, Việt Nam vẫn trồng được 500 000 ha, sản xuất 700 000 tấn nhân. Diện tích cà phê ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Phần)    113 000 ha, phần lớn ở đất đỏ  B́nh Phước (Nam Hà , Đăng Hà , huyện Bù Đăng ? v. v…)

Hai năm gần đây,  nông dân xứ Bờ biển Ngà - Côte d’ Ivoire, Tây Phi Châu,  đốn bỏ  cà phê vối trồng cao su  thiên nhiên, v́ hai năm nay giá cao su thiên nhiên lên cao  (tháng 8/2008  một tấn cao su giá trên 3000 đô la Mỹ , cao hơn giá tháng 8 /2007 gần 200  đô la !). B́nh Phước cũng như các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đốn bỏ hột điều năng xuất kém làm cũi  và đổ xô trồng cao su  thiên nhiên. E sẽ  sa vào chu kỳ thăng trầm, đốn bỏ  đi trồng lại cao su và hột điều . May thay ở B́nh Phước nay  xuất hiện một chương tŕnh phát triễn  cây ca cao , làm sô cô la. 

Ca cao đă được trồng thử năm 1960 ở hai tỉnh Lâm Đồng (Bảo Lộc) và Tiền Giang (Định Tường-Mỹ Tho), ra trái tốt đẹp. Nhưng khi  thu họach, không có người thu mua lên men chế biến hột thương măi, khiến nông dân chán năn đốn bỏ hết. Ca cao là cây  nhiệt đới, trồng tốt  ở 200 Bắc hay Nam trên dưới Xích đạo, tương đối đ̣i hỏi chăm sóc c̣n nhiều hơn cả cà phê vối, nhất là trên phương diện vũ lượng (trung b́nh 1500- 2000mm mỗi năm), nhiệt độ trung b́nh tối đa  30- 32 0 C, tối thiểu  18- 21o C và ẩm độ  ban ngày 70% và ban đêm 100%. Đây là những con số trung b́nh đúng  vào khí hậu  tỉnh B́nh Phước đă kể trên.

 B́nh Phước khởi sự trồng ca cao  năm 1999. Năm 2005  chỉ trồng được 268 ha  ở các huyện Bù Đăng , Đồng Phú , Lộc Ninh,  trong  tổng số 4000 ha ca cao ở Việt Nam, thua xa Bến Tre (1500 ha), Đắc Lắc (1083 ha), và cả    Rịa - Vũng Tàu (450 ha),  và Tiền Giang ( 300 ha) nữa . Năm 2008, riêng huyện Bù Đăng đă trồng  được 1200 ha. mức sản xuất sẽ khỏang 1500 tấn. Năm 2010,Việt Nam hy vọng trồng 20 000 ha ca cao. Con số cho B́nh Phước có thể là 4- 5000 ha.  Năng xuất độc canh ca cao là 2  tấn / ha hột khô đă lên men và tiểu điền đa canh ca cao là 1.2 tấn /ha. Hột ca cao ở Bến Tre, trồng xen kẻ dưới các hàng dừa rất  cao phẩm, chất béo   55- 56 %, theo công ty Cargill thu mua  cho biết. Công ty Datnam lo thu mua ca cao ở Đắc Lắc và công ty Olam ltd. thu mua ở B́nh Phước.

Như vậy c̣n thua xa Côte D’ Ivoire, mức sản xuất năm 2003 đă là 1 320 000 tấn , Inđônêxia 386 000 tấn, Mă lai Á 172 000 tấn. Năng xuất ca cao Mă Lai Á rất cao 2- 3 tấn/ha, nhưng lợi tức kinh tế thua kém hẳn cọ dừa - oil palm, nên nông dân Mă lai Á không chịu trồng  ca cao trong xứ  và chỉ ưa trồng cọ dừa. Việt Nam đă có thử cọ dừa ở Công ty  Đất đỏ B́nh Long trước đây , nhưng ẩm độ và ánh sáng  không thích hợp làm cho cọ dừa  năng xuất kém và  dầu chứa quá nhiều acids. Trong tương lai, B́nh Phước cần có một chương tŕnh phát triễn  ca cao mạnh dạn hơn, tiến nhanh hơn như đă vượt cà phê vối Côte D’Ivoire, nhất là theo thể thức tiểu điền đa canh, năng xuất tuy có thể kém  hơn ca cao quốc doanh độc canh, nhưng thích hợp hơn  cho nông dân cả Kinh lẫn tộc dân thiểu số.

Thể thức đa canh tiểu điền có thể giúp phát triễn xen kẽ,  ngoài các lọai cây

(khoai  ḿ - sắn , khoai mỡ , khoai sọ  khoai lang, môn,  b́nh tinh, đậu (đổ) rằn  đen-đỏ -  trắng,  đậu  ván, đậu ngự , đậu rồng …, và nhất là các lọai chuối đất cao (chuối sứ , chuối mật mốc , chuối cau trắng hay cau Qủang , chuối Đồng Nai -  chuối Ngự thật ra nguồn gốc B́nh Phước, rừng Phước Long , núi Bà Rá) dễ trồng, chịu hạn hơn các lọai chuối già cổ điển , nay đă bán đầy các  chợ Á Đông Ca li-Hoa Kỳ, xuất cảng  được sang Trung Quốc mới đây và tại sao không? ở Nhật Bản, Nam Hàn). Chuối rất cần để che bớt ánh nắng  cho cây ca cao c̣n nhỏ. Và những hàng  cây bơ - avocado,  nhóm nhiệt đới Antille hay nhóm lai Antille x Guatemala , Gua temala x Mexico đă thử nghiệm thành công như giống vỏ  tím Hass, vỏ xanh Fuerte …  Hay xen kẻ  hàng sầu riêng (mọc tốt ở cao nguyên Di Linh kế cận ; Thái Lan  từ lâu đă  sản xuất trên 1.5 triệu tấn và xuất khẩu 150 000 tấn sầu riêng một năm), hàng mít lựa chọn lọai vừa ăn múi, nướng hột làm hạch quả tương đương hạt dẽ- marron, chestnut xứ lạnh,  vừa làm gỗ tốt, hàng dẽ bi - macadamia nut (phía bắc tỉnh B́nh Long), hàng chôm chôm , hàng  mảng cầu xiêm hay mảng cầu tây - cherimola v.v… cũng  che mát  đươc cho cây ca cao xen kẽ.  Và tại sao không, xen kẻ  những hàng  hồng xiêm ( sa pô chê , Ma Mây), ngay  cả sung  (vă) tây - ngọt- fig, figues , lọai không cần ong đặc biệt để sinh trái v.v…  Thập niên 1990, Thái Lan đă xuất khẩu hơn 2 tỉ đô la Mỹ  trái cây nhiệt đới, đáng cho chúng ta suy nghĩ  khảo cứu, khuyến nông,  khuếch trương.

Một cái nh́n mới về tài nguyên rừng (và đất lâm nghiệp ),  tiếp nối  sáng kiến phát triễn nông nghiệp đất cao (thay v́ phù sa đồng bằng châu thổ  đất thấp cỗ truyền) cộng tác với Căm Bốt (và Lào) tranh ảnh hưởng với Trung Quốc, Thái Lan?

Chúng ta đă biết cộng tác mở rộng  phát triễn cao su với Lào ( và Cam Bốt)  dọc  Trường Sơn  Tây  ở các chi nhánh phụ lưu sông Mê Kông, đến tận bờ sông chính biên giới Thái Lan. Tháng 6/2006,  Công ty Hai Nan Natural Rubber Industry, công ty cao su thiên nhiên lớn nhất Trung Quốc, qua trung gian của SuiGang Investment Development Co. (?) được phép chánh phủ Cam Bốt cho khai thác 60 000 ha  phát triễn cao su. Việt Nam  cũng được phép khai thác 16000 ha cao su ở tỉnh Mondukiri- Cam Bốt,  giáp ranh ba tỉnh Đắc Lắc,  Đắc Nông và B́nh Phước. 5 công ty công ty  chị em miền Đông Nam Phần của Tổng Công Ty Geruco đă được chánh phủ Cam Bốt cấp phát  22 000 ha  phát triễn cao su và đă trồng được 4000 ha;  riêng Công Ty Phú Riềng thuộc huyện Phước Long  trên 200 ha cao su, cuối năm 2007. (Nhắc  lại là: Phú Riềng là căn cứ bộ chỉ huy quân sự  Miền Nam thời nội chiến , và trước đó vào năm 1933 là nơi thành lập một tổ chi bộ Đông Nam đảng Cộng Sản Đông Dương, có sự tham dự của hai anh em tộc dân Stiêng là Điều Mol và Mol. Lộc Ninh là nơi thiết lập chánh phủ Mặt trân Giải Phóng miền Nam.  H́nh như Geruco và Cam Bốt đă thỏa thuận trong khuôn khổ phát triễn thỏa ước Tam Giác Việt Miên Lào (?),  nghiên cứu phát triễn 180 000 ha cao su ở  các chi nhánh sông Mê Kông  thuộc Cam Bốt. Việt Nam có lợi thế hơn Trung Quốc để phát triễn cao su  vùng này, v́ đă có nhiều dân Miên gốc Việt miền Bắc ( được  Pháp mộ phu vào làm cao su ở đồn điền Pháp trên Cam Bốt  từ năm 1921 đến năm 1945 ), biết rỏ  các giống cao su đất đỏ hay đất xám cao năng hơn  các giống cao su Hải Nam  chỉ giỏi chịu lạnh , cạo mũ sớm hơn, phu Việt lành nghề cạo mũ hơn  các tỉnh miền Bắc Việt Nam hay  dân Hoa ở Quảng Tây , Quảng  Đông, đă tham gia quản lư khai thác cao su , chế biến thành sản phẩm xuất khẩu.  Theo L. Tichit , kỷ sư canh nông Cam Bốt, năm1981, có đến trên 200 000 người Bắc trên đất Miên.  Thể thức phát triễn cao su tiểu điền, kư khế ước  với GeRuco, xen kẻ  đa canh với các cây ăn trái hay hoa màu lương thực đă  phát triễn ở B́nh Long, Đắc Nông, Tây Ninh cũng thích hợp hơn thể thức quốc doanh Trung Quốc hay đại công ty tư Thái Lan dân cạo mũ, chăm sóc chỉ là  phu thuê như thời đồn điền  xa xưa. Tổng số đất đỏ Căm Bốt, Lào có thể trên 750 000 ha. Tóm lại trong tương lai, Việt- Miên- Lào có  hy vọng trồng 2- 3 triệu ha cao su thiên nhiên, sản xuất trên 3 triệu tấn mũ khô chế biến, đuổi kịp  hay vượt mặt nước sản xuất lớn nhất thế giới hiện nay là Thái Lan . V́ hiện nay an ninh ở Việt - Miên Lào đă ổn đinh phần nào, trong khi Thái Lan đang bị xung đột giữa dân Hồi Giáo và Phật Giáo ở vùng  cao su miền Nam Thái Lan , biên giới Thái - Mă Lai Á  .

Thực hiện trong nội địa chương tŕnh Việt Nam  trồng 1 triệu ha cao su  năm 2015,  cần giải quyết mau lẹ  vấn đề sử dụng hợp lư  quĩ vốn đất đai hơn, v́ B́nh Phước phát triễn cùng lúc nhiều lọai cây xuất khẩu  lâu năm khác nhau, cạnh tranh nhau .Geruco cho biết không c̣n đất cấp trồng cao su nữa theo thể thức quốc doanh đại trà, và trên đất đỏ ph́ nhiêu bị cà phê cạnh tranh ở nhiều tỉnh. Không những đất nông nghiệp, mà luôn cả đất lâm nghiệp, có khi cả  đất phát triễn thị trấn  tỉnh, huyện, xă phường nữa hay lấn chiếm, chuyễn nhượng sai lầm cố ư hay vô t́nh bất hợp pháp đất đai, vi phạm hành lang lộ giới, mặt bằng …, đất  trưng dụng dành cho  các khu cụm công nghiệp sử dụng chậm trễ c̣n bỏ hoang hay đặc biệt  chiếm lấn đất tốt  của  nông nghiệp bồi ḥan chưa thỏa đáng .

Trước tiên, cần thêm nhiều sáng kiến mới mẽ hơn về đất lâm nghiệp, không thể mô phỏng  các  khuyến cáo lâm nghiệp các nước tân tiến đă mở mang, ở một nước chậm tiến  đang mở  mang, dân số gia tăng nhiều mỗi năm .Ở t́nh trạng thiếu thốn đất đai cho nông dân sinh sống, khó ḷng duy tŕ  diện tích 351 000 ha  đất lâm nghiệp, 51 % tổng diện tích đất ṭan tỉnh, trong đó có đến 47.12 % là đất có rừng . Vai tṛ  rừng B́nh Phước bảo vệ môi trường sinh thái, thực vật, động vật  như tê giác, ḅ rừng, ḅ tót, min - gaur, trâu rừng, vượn, khỉ, chim chóc… hiếm  hay bị đe dọa tuyệt chủng (công viên quốc gia Bù Gia Mập và phần công viên Nam Cát Tiên thuộc B́nh Phước…), tác dụng tham gia điều ḥa  ḍng chảy các con sông trong tỉnh nhà, đóng một vai tṛ rất quan trọng. Nhưng không thể có ưu tiên độc đáo trên bảo đảm đời sống hàng ngày của dân gian, của nông dân thiếu hay không có đất  canh tác. Phải xét lại quan niệm  17  “ lâm trường  “tỉnh nhà,   xếp hạng nhiều loai cây  đa niên của thế nông lâm, hay xen kẻ đầy đủ hệ thống chống xói ṃn,  như thể cây rừng tái tạo, giảm bớt bảo vệ những ḷai cây gỗ qúí hiếm có thể trồng  dễ dàng dọc đường phố  thị trấn hay có thể bảo tồn  thú - động vật gần tuyệt chủng bằng phương pháp tái tạo tinh ḍng - cloning hiện hửu, hầu giải tỏa nhiều đất lâm nghiệp, rừng, công viên bảo tồn …cho phát triễn  nông nghiệp cây lâu năm tỉnh nhà. Rút kinh nghiệm nông dân Căm Bốt biểu t́nh chống đối công Ty Trung Quốc Wuzhishan, năm 2004, chiếm đất trồng  tập thể  20 000 ha rừng bạch đàn - eucalyptus , giá tị - teck ,  bạch dương - poplar, peuplier,  giống tuyễn chọn hay giống lai - hybrid poplar , tại vùng Đắc Dam, gần biên giới hai tỉnh B́nh Phước và Đắc Nông .         

Đẩy mạnh khuynh hướng đô thị, thị trấn hóa

Tỉnh B́nh Phước cũng như miền Đông Nam Phần (Nam Bộ)  có tỉ lệ thị trấn, đô  thị hóa lớn nhất Việt Nạm.  Nay đă có hơn 50 % dân chúng miền, tỉnh, huyện sống ở thị trấn lớn nhỏ, trong khi con số cho Việt Nam trung b́nh  chỉ là 25 %; 75 % dân chúng  c̣n quá đông đúc ở thôn ấp, làng xă.

Trước tiên là nhờ phát triễn những cơ sở , nhà máy biến chế nông phẩm, cây lâu năm tỉnh nhà.  Cao su  cần lưu tâm  thêm  áp dụng kỷ thuật chế biến ít ô nhiễm hơn đă có ở các nhà máy Ấn độ, lập nhà máy làm lốp xe qui mô ( xe vận tải, xe hơi , xe mô tô, xe đạp …) hay các vật dụng  chế tạo bằng cao su thiên nhiên, tổ chức thu gom hột cao su chế tạo diesel sinh học hay chế biến thành  thực phẩm nuôi cá, nuôi súc vật.  Cần tận dụng trái hột điều cũng như nhiều trái cây khác làm nước uống, giải khát, vỏ hột điều làm  sơn, dầu đặc biệt, làm than  hoa.

Năm 1997,  B́nh Phước chỉ  mới có 5 công ty quốc doanh và 175  công ty tư doanh  đăng kư  cở nhỏ , thủ công  phần lớn liên hệ đến nông nghiệp .  Năm 2000  đă có 1306 doanh nghiệp, 31 công ty vốn ngọai quốc, đầu tư trên 100 triệu đô la Mỹ. Năm 2006,  B́nh Phước đă tạo ra 38 000 công ăn  việc làm , nhờ cải thiện hạ tầng cơ sở  và thiết lập  8  khu- cụm công nghiệp, tổng diện tích trên 2100 ha . Triễn khai cụ thể, có kết quả  là khu công nghiệp Chơn Thành - xă Thành Tâm  , khu công nghiệp đầu tiên của B́nh Phước , nay đă có  6 dự án đầu tư vốn đăng kư là 3 triệu đô la.Tiếp đến là khu công nghiệp Tân Khai, xă Tân Khai, huyện B́nh Long; khu công nghiệp  Nam  Đồng Phú , xă Tân Lập, huyện Đồng Phú ; khu công nghiệp Minh Hưng, xă Minh Hưng, huyện Chơn Thành, giai đoan một giao cho  Vina Hàn quốc  làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở hiện có 5 dự án tổng vốn đăng kư  14 triệu đô la; khu công nghiệp Nam Đồng X̣ai  và Đồng Phú, thị trấn Tân Phú huyện Đồng Phú  và xă Tiến Hưng thị xă Đồng Xoài  đă giao cho cômg ty  cao su Đồng Phú  làm chủ đầu tư; cụm công nghiệp Tân Thành, xă Tiến thành và xă Tân Thành, thị xă Đồng Xoài hiện đă có 6 dự án đầu tư  tổng vốn 11 triêu đô la và  có thêm  9 nhà đầu tư trong nước đang làm thủ tục đầu tư .

  B́nh Phước cũng có khá nhiều  tài nguyên khóang sản. Đă phát hiện 91 mỏ , điểm quặng, điểm khóang với  20 lọai  khóang sả thuộc 4 nhóm : nguyên liệu phân bón , kim lọai, phi kim lọai, đá quư và bán qúy.  Nguyên vật liệu xây dựng ( đá , cát , latêrit , puzơlan, cao lanh, đá vôi, đặc biệt mỏ đá vôi Tà Thiết. Cuối năm 2007, đă khánh thành  nhà máy xi măng B́nh Phước ở huyện B́nh Long, thuộc tổng Công ty Hà tiên 1, tổng vốn đầu tư 300 triệu đô la, công xuất 1.5 triệu tấn xi măng và clinkơ . Nếu giải quyết  thỏa đáng vấn đề ô nhiễm sông hồ Đồng Nai - Sông Bé , tương lai  c̣n có thể khai thác 320 triệu tấn bô- xít  nguồn gốc laterit,  tương đương với số lượng bô xít Krong Nừng tỉnh Gia Lai , tuy  ít hơn Đăc Nông .               

Tương lai phát triễn B́nh Phước

Lẽ dĩ nhiên muốn phát triễn nông  nghiệp, thị trấn hóa mau lẹ hơn, B́nh Phước phải đặt ưu tiên phát triễn hạ tầng giao thông tỉnh, hiện  c̣n thấp kém nhất miền Đông Nam Phần. Đặc biệt nâng cấp  hai quốc lộ tỉnh Quốc lộ số 13 nối liền thành phố Sài G̣n với Chơn Thành, An Lộc,  Lộc Ninh đến thị trấn cửa khẩu Hoa Lư, biên giới Việt Miên..  Quốc lộ số 14  nối Chơn Thành với thị xă Đồng X̣ai, rồi thị xă Gia Nghĩa - Đắc Nông  và thị xă Ban Mê Thuột- Đắc Lắc. Thị xă  Đồng X̣ai tỉnh lỵ B́nh Phước thay cho hai tỉnh lỵ An Lộc - B́nh Long  cũ và Phước B́nh - Phước Long cũ , cách thành phố Sài G̣n  128 km, cách Gia Nghĩa 119km và cách Ban Mê Thuột  244 km. Hai quốc lộ này nối liền những thị trấn mới cũ, có cơ  làm thành những  pḥng tuyến  khi nguy biến, ǵn giữ biên cương, đặc biệt “ mái nhà Tây Nguyên  “ gồm các tỉnh Kon Tum , Plei ku - Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và hậu cần Sài G̣n.  Nếu chuyễn biến  ngay được t́nh thế nội chiến xâm nhập  trước đây của B́nh :Phước ( nhiều chuyên gia quân sự Hoa Kỳ qui trách cho là miền Nam  thất trận khi mất Phước Long, tháng giêng năm 1975 ),  qua  t́nh thế mới bảo vệ nước nhà ở lảnh địa . V́ nay  hải quân Trung Quốc quá lớn mạnh,   đuổi gần kịp Hoa Kỳ ( tàu nổi , tàu ngầm , hỏa tiễn xuyên  1m xi măng cốt thép, do thám vệ tinh…) khó ḷng ǵn giữ  chống Trung Quốc tàn phá các cảng Biển Đông, Vũng Tàu - Bà Rịa,  lỡ khi Việt Nam bị xâm lăng. C̣n không quân Trung Quốc thả bom  ở lảnh địa th́ vẫn c̣n thua xa không quân Nga và Hoa Kỳ, theo ước lượng các chiến lược gia quân sự quốc tế. Có khi có lẽ  nên nghĩ đến thiết lập công nghệ quốc pḥng B́nh Phước ở vùng núi Bà Rá - Thác Mơ - Phuớc B́nh như đă làm ở Tam Đảo - Việt Tŕ miền Bắc  chăng?

(Irvine- Ca Li,  22 tháng 3 năm 2009 ).