Dầu lửa, khí dầu Biển Đông

và công nghệ liên quan tại Việt Nam

                       

GS Tôn Thất Tŕnh

 

 

 

Đầu năm 1975, giếng Bạch Hổ 1 xác định là Việt Nam có dầu lửa  khai thác thương măi được.

 

Theo kỹ sư Trần văn Khởi, nguyên Tổng cục Trưởng Dầu hỏa và Khoáng sản, thời Việt Nam Cọng Ḥa (tác giả sách Những Ngày C̣n Nhớ …Dầu Hỏa Việt Nam  1970 – 1975, xuất bản ở Houston, bang Texas , Hoa Kỳ, tháng tư 2002), thời Pháp thuộc, Sở Hầm Mỏ - Hà Nội, trước năm 1945,  đă t́m thấy nhiều vết dầu lửa  thấm  từ những cấu tạo sa thạch ở 4 vùng Đông Dương : một ở phía Bắc,  hai ở Hạ Lào  và một ở ven biển miền Trung.  Nhưng những nghiên cứu khoan giếng  t́m dầu (có khi sâu đến 174m  ở quốc lộ số 9 xuyên Lào Việt , phía Bắc Huế năm 1935) không đem lại một kết quả nào cả. 

Từ năm 1967 đến năm 1970 , 4 cuộc thăm ḍ, khảo sát  theo địa chấn, trọng trường , từ trường v.v… đă xác nhận  được 3 bồn trầm tích có khả năng chứa dầu lửa quan trọng  bồn Cửu Long,  bồn Sài G̣n – Brunei (sau này  bồn Brunei – Saigon được  đặt tên lại là bồn Nam Côn Sơn v́ nghiên cứu chi tiết cho thấy không phải chỉ có một bồn mà là hai bồn cách biệt nhau  là bồn Brunei và bồn Nam Côn Sơn) .

Tháng sáu năm 1971, chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa  công bố chánh thức  cấp quyền đặc nhượng  khai thác dầu lữa. Nhưng măi đến cuối tháng 8 năm 1974 , mới có  tin vui lớn là giếng Hồng 1-X, giếng dầu đầu tiên khoan  ở thềm lục địa Việt Nam  cho thấy là thực sự là thềm Việt Nam có  dầu và có những mỏ dầu đủ lớn  để đem lại  lợi ích kinh tế lâu dài trong tương lai. Các giếng dầu tiếp tục khoan như Dừa 1- X , Dừa 2 – X, Mía 1- X , tuy lạc quan, cũng chưa đem đến kết quả sáng sủa dứt khóat. 

Cho đến đầu năm 1975,  giếng Bạch Hổ 1 thử nghiệm sản xuất , đốt dầu thô  và khí thiên nhiên  cháy đỏ một góc trời Biển Đông th́ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa  là Việt Nam  sẽ có dầu lữa khai thác thương măi được .

Việt Nam đă sản xuất đến 400 000 thùng dầu một năm, năm 2004 ,đứng hàng thứ ba Đông Nam  Á Châu, chỉ sau  Inđônexia và Malaysia; đưa  dầu thô lên hàng  thứ nhất xuất khẩu nhiều năm qua .

Theo thống kê năm 2004, dầu lửa Việt Nam đạt đỉnh sản xuất là 400 000 thùng dầu/ ngày (bbl/ day). Năm 2005, đă trụt xuống 370 000 thùng và năm 2006, chỉ c̣n 3 62 000 thùng/ ngày ,v́ mỏ dầu lớn nhất là Bạch Hổ cạn dần. Nhưng cuối năm 2007 hay đầu năm 2008  lại sẽ vượt quá 400000 thùng/ngày. Nhờ khám phá một mỏ dầu mới gần Bạch Hổ, và các mỏ mới như Sư Tủ Đen, Sư Tử Vàng , Phương Đông , Cà Ngừ Vàng dần dần được đưa vào sản xuất. Như vậy vào năm 2006 , Việt Nam chỉ c̣n thua Inđônexia (1100 000 thùng/ ngày) Mă lai Á (723 000) ở Đông Nam Á, vượt mặt Thái Lan (334 000) và Brunei (220 000) . .

Nhưng ở vùng Á Châu – Thái B́nh, mức sản xuất dầu thô Việt Nam chỉ chiếm hạng 6, sau Úc Châu (555 000), Malaysia , Ấn Độ  (847 000)  và nhất là Inđônêxia và Trung Quốc (3 836 000). Đối với thế giới sản xuất dầu, Việt Nam đứng hạng 35,  năm 2006 .

 

Những vùng bồn trũng  ( reservoirs ) dầu Việt Nam.

 

Đó là các vùng dầu Cửu Long, Nam Côn sơn,  Chồng lấn Mă Lai – Thổ Chu (Poulo Punjang), và Sông Hồng  và  tiềm năng mới khám phá ở vùng Phú Yên, Khánh Ḥa. Đáng tiếc là Trung Quốc đă chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa (Paracels) mà về phía đông,  tiềm năng dầu, khí cũng rất lớn  và một phần các đảo Trường Sa (Pratleys) của Việt Nam, không sá ǵ mấy điều đ́nh cùng Việt Nam khảo sát các vùng dầu khí lân cận, trong khi đó lai chịu đàm phán thương thuận với Brunei, Inđonêxia và Phi Luật Tân ở những vùng các nước này tranh chấp với Trung Quốc (như đàm phán ở vùng đảo Vành Khăn, chịu để cả hai nước Trung Quốc và Phi Luật Tân cùng khảo sát t́m dầu ở 140 000 km2 vùng Trường Sa này).

Tính đến tháng giêng 2007, theo tập san quốc tế Dầu và Khí dầu Oil and Gas Journal , dự trữ chứng minh  ở ngoài khơi biển Việt Nam là 600 triệu ( có tài liệu nói là 1 tỉ ) thùng dầu khai thác thương măi được. Hiện có 9 mỏ dầu đă khai thác. Mỏ lớn nhất là Bạch Hổ, do công ty Vietsov Petro (VSP), thuộc tổng công ty quốc doanh dầu khí PetroViệt Nam,  khai thác cùng chung với công ty Nga Zarubezhneft và đôi chút cổ phần của BP - British Petroleum , Conoco Phillips, Korean National Oil Corporation – KNOC, Petronas (Malaysia), Nippon Oil Company và Talisman Energy. Các mỏ quan trọng khác là Rạng Đôn , Hồng Ngọc A, Đại Hùng,Thanh  Long, Hồng Ngọc B… Các mỏ mới là Sư Tử Đen ( lô 15-1 ở bồn Cửu Long, bắt đầu sản xuất năm2003,  đă  đạt 80 000 thùng / ngày và sẽ đạt 200 000 thùng / ngày những năm tới . Sư tử Trắnglô – block `15-1  họat động năm 2004 sẽ ḥan thành năm 2008. Nhất là Sư Tử Vàng  ,cuối năm 2007 hy vọng có năng xuất100 000 thùng/ ngày,  do một tổ hợp - consortium  gồm PetroVietnam(50%), ConocoPhilips (243.2 %) KNOC (14.25%)  SK Corporation (9%) GeoPetrol (Pháp 3.5 %).  

Năm 2008, sẽ khai thác mỏ Phương Đông    có cổ phần chung khai thác với  Nhật là công ty hợp doanh  Japan Viet Nam Petroleum Company ( JVPC )  khởi sự sản xuất vào tháng 9 năm 2008  . Ở vùng Nam Côn Sơn mỏ Cá Ngừ Vàng , dầu - khí song hành , đă sản xuất 20 000 thùng/ ngày , đỉnh năng xuất có thể là 200 000 thùng / ngày . Đáng tiếc là tháng 10 năm 2004, đă khám phá ở lô 102- 106 mỏ Yên tử ,bồn Sông Hồng  cách Hải Pḥng 70 km về phía đông, nhưng bị Trung Quốc tranh chấp chủ quyền hải phận nên không khai thác được.

 

Vùng Biển Đông Việt Nam cũng cho nhiều khí dầu.

 

Cũng theo tài liệu của tạp  chí quốc tế kể trên, Việt Nam, vào tháng giêng 2007 đă có  trữ lượng chứng minh là 6.8 ngh́n tỉ bộ khối (trillion cubic feet) khí dầu thiên nhiên – natural gas.  Năm 1995 đă sản xuất 24- 25 tỉ bộ khối , nhưng năm 1997 đă giảm xuống chỉ c̣n 8 tỉ bộ khối.   Năm 2005, đă sản xuất 141 tỉ bộ khối, tăng 33 % so với năm 2004 , và hơn 3 lần rưỡi mức sản xuất năm 2000 , đạt 41 tỉ khối .Năm 2006 sản xuất162 tỉ bộ khối. Cũng như  dầu lữa, dầu khí thiên nhiên do công ty quốc doanh PetroViệtNam chủ tŕ, nhưng có sự đóng góp của các công ty ngọai quốc như BP, Chevron, Conoco Philips, KNOC, Petronas Malaysia, PTTEP của Thái Lan, Talisman Energy …

Ng̣ai dầu khí song hành của các mỏ Bạch Hổ,Sư tử Đen và Rạng Đông, hai mỏ khí dầu đáng ghi là Lan TâyLan Đỏ,  trử lượng là 2000 tỉ bộ khối ở Nam Côn Sơn , sản xuất 193 tỉ bộ khối / năm,  công ty hợp doanh khai thác gồm PetroVN 51 %, BP 32.67 %, Conoco Philips 16, 33%. Khí dầu đưa vào khu kỷ nghệ Phú Mỹ - Bà Rịa, nhờ hoàn thành 230 dặm Anh ống dẫn  hai công ty BP và Conoco Philips đầu tư.  Tháng 11 năm 2006,   cũng ở bồn Nam Côn Sơn,  hai mỏ Rồng Đôi  Rồng Đôi Tây,  đạt 47.5 tỉ bộ khối / năm, với trử lượng là 856  tỉ bộ khối, lô 11-2 là do công ty Hàn Quốc KNOC khai thác.  Đường ống dẫn từ lô 11, cũng do KNOC, thực hiện đă ḥan thành đưa khí dầu vào lục địa năm 2006.  Bồn Cửu Long ở các  lô9- 2 và 162  sẽ sản xuất 165 tỉ bộ khối / năm.

Năm 2007, phát hiện 7 lô bồn trũng Sông Hồng có thể chứa  khí dầu đến tương đương 7 tỉ thùng  dầu lữa. Tưởng cũng nên nhắc lại là một mỏ khí dầu nhỏ ở Tiền Hải đă sản xuất1.76 triêu bộ khối / ngày.  Các lô 127 và 122  vùng Phú Khánh ( do một tập đ̣an công ty  Ấn Độ , Nhật và Chevron- Texas) cũng chứa nhiều khí dầu. Khí dầu   46  ở vùng Cái Nước (Cà Mau)  rất kế cận khối PM3 CAA của Mă Lai Á, ở vùng chồng chất Thổ Chu, sẽ đưa về khu điện khí – đạm ( phân bón hóa học ) đất liền Cà Mau,  nhờ đường ống dẫn khí dài 200 dặm Anh.  Đầu năm 2007, công ty BP đă ngưng khảo sát khoan  t́m dầu và dầu-khí  ở lô 5-2 Vùng Trường Sa, v́ tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.

 Nhờ trên 40 năm kinh nghiệm   khảo sát , khai thác dầu- khí, Việt Nam đă áp dụng những kỷ thuật mới mẽ như địa chấn 3-D ba  chiều, nhất là đă có hảng kỷ thuật Roxar chịu đầu tư thực thi kỷ thuật tân tiến phần khảo sát trước và khi bắt đầu - upstreams ( BP và Nhật, Mă Lai Á… áp dụng)  như Phần mềm làm Mô h́nh Bồn chứa Chính -Leading Reservoir Modeling Software,. Mô hinh hay Bắt chước khảo sát Bồn – Reservoir Modeling or Simulation, Hệ thống Theo  dơi Cát – Sand Monitoring Systems,  Máy tỉ lệ nước  khi hút dầu-  Water Cut Meter, Irap RMS, Hệ thống Khai thác Vĩnh viễn Dưới Giếng – Permanent Downhole Production System - PDMS, Multi phase Flowmeter v.v…     tương lai thật hứa hẹn , bền vững .

 

Phát triễn công nghệ liên quan đến dầu, khí.

 

Theo Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế ,Việt Nam xuất khẩu hầu hết dầu lửa khai thác. Năm 2006, xuất khẩu 125 000 thùng dầu khô/ ngày sang Hàn Quốc, 40 000 sang Hoa Kỳ, 30 000 sang Nhật ; phần c̣n lại sang các nhà lọc dầu ở Singapore và Thái Lan.  Hảng Petrolimex, một chi nhánh của PetroVietNam,  chiếm 60 % nhập khẩu dầu đă lọc .. Măi đến năm 2005, mới khởi sự xây cất nhà máy lọc dầu    khu chế xuất Dung Quất – Quảng Ngăi chế biến 140 000 thùng dầu thô/ ngày. Mức đầu tư là 2. 5 tỉ đô la Mỹ.  Khó khăn nan giải với các công ty đầu tư, làm chậm trễ xây cất, khi Việt Nam muốn địa phương hóa công kỷ nghệ  khắp đất nước, thay v́ tập trung ở  2 khu vực Sài G̣n – Vũng Tàu,  Hà Nội Hải- Pḥng. Dung Quất xa mỏ Bạch Hổ 600 dặm Anh  và cũng xa  vùng tiêu thụ chánh các sản phẩm dầu lữa Hà Nội, Sài G̣n.  Không chắc là nhà máy Dung Quất sẽ họat động vào năm 2009, như dự liệu. Nhà máy thứ hai là ở Nghi Sơn-  Thanh Hóa, dùng 150 000 thùng dầu thô/ ngày, đang xây cất năm 2007, cũng xa các nơi tiêu thụ sản phẩm dầu lữa. Cả hai nhà máy lọc dầu này, chỉ chứng minh được vi trí lợi ích kinh tế, nếu khai thác được các vùng dầu- khí bồn Sông Hồng hay bồn: Phú Khánh.  Nhà máy thứ ba h́nh như dự trù đâu ở Vũng Rô - Phú Yên th́ phải, chưa  có dự án, đặc điểm kỷ thuật . Có lẽ nên dời vị trí thứ ba về vùng  Sông  Cửu Long, ở Rạch Giá – Hà Tiên hay ở Sóc Trăng – Trà Vinh (?) chăng?       

Đáng kể nhất là đă sử dụng dầu khí Côn Sơn để chạy những nhà máy nhiệt- điện -khí Phú Mỹ - Vũng Tàu, cung cấp 35 % điện năng cho cả nước. Nhà máy nhiệt -điện- khí Ô Môn sẽ hoàn tất năm 2008 với kinh phí 550 triệu đô la Mỹ, dùng 143 triệu bộ khối / năm, công xuất giai đọan đầu là 600 megawatts, sẽ nâng cấp sau đó lên 1200 megawatts. Việt Nam đang dự trù làm thêm 3 nhà máy nhiệt điện khí nữa. Nhà máy điện Cà Mau,  thuộc công tŕnh cụm khí-điện-đạm (phân bón hóa học nitrogen) tại xă Khánh An, huyên  U minh – tỉnh Cà Mau, đang xây dựng theo thể thức tua bin khí chu tŕnh hổn hợp với công xuất 750 megawatts.

 

 (Irvine – Cali đầu tháng 12 năm 2007)