Trần Thượng Xuyên [3] với quá tŕnh khai khẩn,

phát triển và bảo vệ thành quả khẩn hoang vùng

Đồng Nai – Gia Định

PHẠM PHÚ LỮ

 

1. Vào giữa thế kỷ XVll (1679), bên Trung Quốc, nhà Minh đang suy yếu, giặc giă nổl lên cướp phá, gây loạn lạc khắp nơi, dân t́nh khổ sở. Vua nước Măn Châu đương thời là Hoàng Thái Cát thừa cơ cử binh sang đánh vào Cẩm Châu, Ninh V́ễn, lần lên chiếm lấy Bắc Kinh, lập lên nhà Đại Thanh. Vua Thanh là Thánh Tổ Khang Hy đă hạ lệnh toàn quốc phải cạo tóc' thắt bím, ăn mặc theo người Măn, ai không tuân theo đều phải tội chết. Tuy nhiên, người phương Nam, nhất là các tỉnh Giang Nam, Triết Giang, Giang Tây đă nổi lên phản kháng quyết liệt. Nhà Thanh lại sai phá hết thành quách, đồn lũy, ruộng vườn ở gần bờ biển các tỉnh Triết Giang, Phước Kiến, Quảng Đông và ra lệnh dời dân ở đây vào 30 dặm trong nội địa, ai c̣n trong giới hạn cũ, phải tội chết và cấm cả ghe thuyền hạ thủy.

Bốn viên tướng của nhà Minh là Dương Ngạn Địch, tổng binh đế Long Môn và phó tướng Huỳnh Tấn; Trần Thượng Xuyên tự Thắng Tài, tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm và phó tướng Trần An B́nh đă chiếm cứ đảo Đài Loan cùng nổi'lên chống triều đ́nh nhà Măn Thanh, nhưng bị thất bại, nên đă đem 3.000 quân cùng gia quyến và 50 chiến thuyền chạy vào cửa biển Tư Dung và cửa Đà Nẵng xin các chúa Nguyễn cho tỵ nạn trên đất Việt. (1) sau khi bàn bạc, cân nhắc thiệt hơn, chúa Nguyễn Phước Hiền đă ban quan tước cho họ, lại viết thư và sai người đem thư đến trao cho vua Chân Lạp, yêu cầu chia, cấp đất đai cho họ để họ khai khẩn làm ăn: ''Chúa Nguyễn bèn khiến đặt yến tiệc đăi họ, an ủi, khen ngợi, cho các tướng lănh y chức cũ, phong thêm quan tước mới, khiến vào ở đất Đông Phố để mở mang đất ấy Họ được các tướng Vân Tŕnh, Văn Chiêu hướng dẫn, binh thuyền tướng sĩLong Môn của Dương Ngạn địch t́ến vào cửa Lôi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, đến định cư ở Mỹ Tho, binh lính tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên, Trấn An B́nh tiến vào cửa biển Cán Giờ roi lên định cưở Bàn Lân, xứ Đồng Nai (Biên Ḥa) ngày nay (2).

Như thế trên danh nghĩa họ Dương, họ Trần đă nhận quan tước và nhiệm vụ của chúa Nguyễn vào đất Đồng Nai - Gia Định chứ không thuần túy là những người bỏ xứ ra đi tỵ nạn. Họ đă thành thán dân của chúa Nguyễn! Với chính sách đối xử khá thuận lợi của họ Nguyễn, những di dân người Hoa đă triệt để lợi dụng những điều kiện có lợi trong việc làm ăn sinh sống để tạo nên một cộng đồng người Hoa vững chắc ở nhiều nơi trên toàn dải đất xứ Đàng Trong và đặt nền tảng cho sự phát triển của họ sau này. Nhóm của Tổng binh Trần Thượng Xuyên sau khi đến Bàn Lân lập nghiệp, đă tiến hành chiêu mộ, thu hút lưu dân người Trung Quốc đến làm ăn sinh sống, mở mang đất đai. Trong số lưu dân đến sau này có thể có người đă nhập cư từ trước nhưng ở phân tán nhiều nơi, nhưng phần lớn phải là những người mới từ Trung Quốc di cư tới và đa số là người buôn bán. Từ đó họ mới thu hút khách thương đến buôn bán làm ăn ở Cù lao Phố gồm có người châu Au, người Nhật, người Mă Lai... ṇng cốt ban đầu là các lái buôn Trung Quốc. (3)

Buổi đầu đến định cư khai phá, nhóm Hoa kiều này khắc phục những trở ngại thiên nhiên trong đời sống hàng ngày như chặt đốn cây cối, phát cỏ rậm xung quanh khu vực định cư, khai thông nguồn nước, mở mang đường ngơ... Vấn đề giải quyết lương thực được đặt lên hàng đầu, tuy nhiên do số lượng không nhiều, nên mức độ khai phá mở mang của nhóm này vẫn chưa có đóng góp đáng kể. Vả lại đối với nhóm người Hoa này th́ nông nghiệp không phải là phương thức sinh sống chủ yếu. Họ có tham gia khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp, nhưng đó chỉ là một phương tiện để sau đó chuyển sang kinh doanh buôn bán.

2. Sau khi đến định cư khai khẩn trên vùng đất Bàn Lân (Bến Gỗ), nhóm người Hoa do Tổng binh Trần Thượng Xuyên đứng đầu đă nhận thấy Cù lao Phố có những điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán nên họ đă di chuyển về đây.

Cù lao Phố là một băi phù sa nằm giữa sông Đồng Nai, ''dài dặm dư, rộng 2/3 dặm, cách phía đông trấn độ 3 dặm''. Phía nam của cù lao là sông Phước Long. Ở giữa ḍng sông cách trên 4 dặm 1/2 thiên về phía bắc ''có đá cự tích, c̣n gọi là thạch than (thác đá hay đá hàn)'l (4). Đây là mô đá gồ ghề lớn nhỏ chồng chất, có vực sâu, thế nước chảy xiết và sóng vỗ ào ạt. Phía bắc của cù lao là sông Cát, c̣n gọi là Sa Hà hay Rạch Cát hoặc Hậu Giang cách phía đông trấn Biên Ḥa 3 dặm 1/2 và chảy quanh Cù lao Phố (Cù lao Phố nay là xă Hiệp Ḥa, thuộc thành phố Biên Ḥa, tỉnh Đồng Nai. Bắc giáp phường Thống Nhất, nam giáp xă Tân Vạn, đông giáp phường An B́nh và Tam Hiệp, tây giáp phường Quyết Thắng và xă Bửu Ḥa, nối liền nội ô thành phố Biên Ḥa bằng hai cầu Ghành và Rạch Cát (trên quốc lộ 1) cách thành phố Biên Ḥa về phía tây nam 1 km, cách TP.HCM về phía đông bắc 31 km.

Cù lao Phố có hai rạch nhỏ là rạch Ông An và rạch Ḷ Gốm, đưa nước sông Đồng Nai chảy vào tận những cánh đồng xa tít nằm sâu trong ḷng cù lao, rất thuận lợi cho trồng trọt Cù lao Phố có tên là Băi Đại Phố, Giăn Phố và Cù Châu. ''Cù Châu là nói địa thế khất khúc chạy tới như h́nh con hoa cù (rồng con có sừng) uốn khúc giỡn nước nên nhân đó gọi tên'' (5). Cù lao Phố có ba thôn: Nhất Ḥa thôn, Nhị Ḥa thôn, Tam Ḥa thôn với 12 ấp: Hưng Phú, Tân Giám, B́nh Tự, B́nh Xương, Tân Mỹ, B́nh Kính, Tân Hưng, Thành Đức, B́nh Ḥa, B́nh Quang, Long Thới, Ḥa Quới (6).

Bằng tư duy thương nghiệp, tư duy hàng hóa, tiền tệ, chứ không phải bằng tư duy nông nghiệp, chỉ biết chăm bẵm vào việc khẩn hoang, trồng tỉa, nhóm Trần Thượng Xuyên đă sớm phát hiện ra một ưu thế của Cù lao Phố, có vị trí quan trọng trong kinh doanh với đường thủy, đường bộ nối liền miền Trung, đường bộ lên Cao Miên và đường thủy xuống Gia Định. Tuy nằm không gần biển, nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, có thể tiếp tục ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, xuống tận phía Nam, ra cửa Cần Giờ và có thể sang tận Cao Miên. Phần lớn trong số họ đă chuyển cư từ Bàn Lân về Cù lao Phố, phát hoang, dựng nhà, lập bến, mở đường, xây dựng phố chợ. Gỗ rừng sẵn và tốt không chỉ cung cấp cho việc đóng thuyền mà c̣n là một nguồn hàng xuất khẩu quan trọng. Sẵn vốn liếng tiền bạc, với kinh nghiệm đă được tích lũy, họ liên lạc, móc nối lại các đường dây, khách hàng buôn bán cũ, họ đă khai thác các nguồn hàng lâm thổ sản dồi dào và phong phú trong vùng lúc bấy giờ (gỗ quư, trầm hương, ngà voi, sừng tê, xương động vật, lông chim, da thú, nhựa sơn, dược liệu, tôm khô, cá khô cùng những sản phẩm nông nghiệp khác...). Chỉ trong ṿng vài ba thập niên, đến đầu thế kỷ XVlll, những di dân người Hoa đă biến Cù lao Phố thành một thương cảng xuất nhập khẩu lớn thu hút thuyên buôn Nhật Bản, Trung Hoa và các nước phương Tây đến buôn bán và trao đổi hàng hóa. Quang cảnh của Cù lao Phố (Nông Nại Đại Phố) hiện ra dưới ng̣i bút của Trịnh Hoài Đức khá khang trang, sầm uất: ''Ở đầu phía Tây băi là Đại Phố. Khi mới khai thác, Trần Thượng Xuyên tướng quân chiêu tập lái buôn người Trung Quốc lập ra phố xá, nhà ngói, tường vôi, lầu cao chót vót, quán mấy tầng rực rỡ bên sông dưới ánh mặt trời, liên tục năm dặm mở vạch ba đường phố. Phố lớn lát đường đá trắng, phố ngang lát đường đá ong, phố nhỏ lát đường đá xanh, bằng phẳng như đá mài. Khách buôn tụ họp đông, thuyền biển, thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhỏ sát nhau, là một nơi đô hội. Nhà buôn to giàu tập trung ở đây nhiều nhất'' (7). Việc buôn bán ở nơi thương cảng này được tổ chức khá bài bản, khéo léo và mang tính chất kinh doanh lớn. Điều này được thể hiện rơ nhất trong việc giao dịch buôn bán với thương nhân nước ngoài. Cũng theo Gia Định thành thông chí th́ ''Phía Bắc ghềnh có vực sâu làm nơi trú ẩn cho tàu thuyền các nước. Tàu buôn đến đây, hạ neo xong là lên bở thuê phố ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, lấy đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân cất lên, thương lượng giá cả, chủ mua hàng định giá và mua bao tất cả hàng hóa tốt xấu, không bỏ sót lại thứ ǵ. Đến ngày trương buồm trở về gọi là ''hồi Đường'', chủ thuyền có yêu cầu mua giúp vật ǵ th́ người chủ hiệu buôn ấy cũng chiều ư ước đơn mà mua giùm và chở đến trước kỳ giao hẹn, hai bên chủ và khách chiếu theo hóa đơn thanh ~oán rồi cùng nhau đờn ca vui chơi, đă có nước ngọt tắm rửa sạch sẽ, lại không lo hà trùng ăn lũng ván thuyền, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi''(8).

Hàng hóa các chủ thuyền thường mua là những sản vật được sản xuất ở Đồng Nai như gạo, cá khô, sừng tê, ngà voi, gạc nai, các loại dược thảo ở phía Nam. C̣n sản vật các chủ hàng buôn bán thường nhận mua là những sản phẩm tiêu dùng gồm tơ lụa, vải bố, dược phẩm cho đến những đồ xa xỉ, trang trí như gạch ngói, sứ men, đá xây cột chùa, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc... Hàng năm cứ đến tháng một, tháng chạp, người ta thường xay giă lúa thành gạo đem bán lấy tiền tiêu dùng vào những ngày lễ Tết. C̣n từ cuối tháng giêng trở đi, họ không c̣n thời giờ rảnh rỗi để xay giă lúa thóc. Những lúc b́nh thường người ta chuyên chở gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu, trừu, đoạn của người Tàu đem về may mặc nên áo quần họ toàn những hàng hóa màu tươi tốt đẹp đẽ ít khi họ dùng những áo quần bằng vải trắng thường'' (9).

Nguồn xuất khẩu chính ở Cù lao Phố là lúa gạo. Lúa gạo ở Đồng Nai nhiều nên rất rẻ ''C̣n đồng tiền xưa th́ một tiền (60 đồng) đong được 16 đấu thóc. Cứ lường theo bát được gạt bằng miệng mà dân gian địa phương thường dùng th́ ba bát ấy ngang với 30 bát của Nhà nước. Một quan tiền đong được 300 bát đồng của Nhà nước (tức bát định chuẩn). Giá rẻ như vậy, các nơl khác chưa từng có'' (10).

Kế đến là nguồn gỗ quư dùng để làm tàu thuyền v́ giao thông đường thủy là chủ yếu, Phủ Gia Định sản xuất nhiều gỗ tốt tra xét sổ sách của cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên kê biên hai xứ là nguồn Đồng Môn cùng thủ Quang Hóa thuộc huyện Phước Long có các thứ gỗ sao, trắc, dầu, giáng hương, gụ'' (11)

Những người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào Biên Ḥa, ngoài những binh lính vẫn giữ nguyên đội ngũ ''Long Môn'' dưới quyền chỉ huy của ông, c̣n có hàng loạt các quư tộc phong kiến và thương nhân giàu có cùng gia quyến quê ở Quảng Đông, Hải Nam, Phước Kiến, Triều Châu, Hẹ. Ngoài một số sống tập trung ở Bàn Lân (Bến Gỗ), Cù lao Phố, c̣n có những người sống rải rác trong phạm vi vùng Đồng Nai với tính cách là những đại lư thu mua nguyên vật liệu, hàng hóa tại chỗ cung cấp về Cù lao Phố như ở Tân Bản (lúa gạo), Mỹ Khánh, B́nh Long (hàng vàng bạc), Chợ Đồn (nằm trong làng B́nh Long xuất lu, hũ, cát, đá ong), Tân Mai, Vnh Thanh, B́nh Trước, B́nh Phước (lúa gạo), Đổng Bản, Thủ Đồn Xứ (gỗ quư, thú rừng), B́nh Sơn (đá rửa dùng tô nhà), Phú Hộ́ (xuất trà), An Lợi (sầu riêng), Long Tân (chuối), PhướcAn (cá Buôi, ṣ huyết), Phước Khánh (lúa gạo thơm), Tam An (tôm càng), Hội Bài (cá), Long Phước (chuối, xoài). Ở Nông Nại Đại Phố, có nhiều nhà buôn bán lớn, trong đó người mà trong nước đều biết danh là Lâm Tổ Quan. Theo lời Trịnh Hoài Đức thuật lại th́ Lâm Tổ Quan tên Tư là Nhái (theo cách gọi của người Trung Quốc), người huyện Tấn Giang, phủ Triều Châu, tỉnh Phúc Kiến, gặp túc Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) ra lệnh thay đổi cách phục sức, Lâm Tổ Quan cho rằng kiểu áo măo đương cải cách ấy rất vinh diệu, bèn dâng vàng xin làm nội viên thị hàn, được Phúc Khoát khen là nhà phú hào (12).

Đó là bằng chứng cho thấy ở đây, di dân người Hoa đă rất có uy thế về tài chính và kinh tế. Cùng với sự phát đạt của thương nghiệp, Cù lao Phố cũng là nơi tập trung nhiều nghề thủ công như dệt chiếu, dệt hàng tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường từ mía, làm bột, làm đồ gỗ gia dụng và chạm khắc gỗ đóng thuyền, làm pháo thăng thiên, nhuộm... Trong số các nghề nói trên, có những nghề truyền thống do những lưu dân Việt mang theo từ nơi quê cũ, nhưng cũng có những nghề do thợ thủ công Trung Quốc du nhập vào như nghề gốm, đúc đồng, dệt lụa, làm đồ mỹ nghệ, vàng bạc, pháo thăng thiên. Các nghề này đă để lạ́ những dấu ấn sâu sắc trong dân gian như những địa danh ''chợ Chiếu, xóm Cửi, xóm Ḷ Đúc, rạch Ḷ Gốm...''. Điều này nói lên sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Cù lao Phố. Chính những yếu tố về dân cư (cuối thế kỷ XVll, số lượng dân đến khai phá, định cư đă lên đến 4 vạn hộ), về sự dồi dào sản vật và nguyên liệu của vùng Đồng Nai là những yếu tố quan trọng cho sự h́nh thành trung tâm thương mại - thương cảng Cù lao Phố đầu thế kỷ XVlll .

Người Hoa không chỉ tập trung ở nơi thương cảng này, mà c̣n tạo ra một hệ thống đại lư thu mua và phân phối hàng hóa ăn sâu về các bến sông, bến chợ từ đầu nguồn cho đến nơi cửa biển. Tuy nhiên, sự thịnh vượng của thương cảng Cù lao Phố chỉ kéo dài đến nửa thế kỷ XVlll th́ bắt đầu đi xuống. Bởi khi Cù lao Phố đă trở thành ''xứ đô hội''của vùng đất mới th́ tự nó cũng trở thành nơi diễn ra những cuộc tranh chấp về quyền lực chính trị. Năm 1747, một nhóm khách thi Phước Kiến do Lư Văn Quang cầm đầu và tự xưng là ''Giăn Phố đại vương'' tập trung bè đảng, toan đánh úp dinh Trấn Biên. Cuộc bạo loạn này bị dập tắt nhưng đă gây nhiều thiệt hại đáng kể cho Cù lao Phố. Mặt khác những nguồn tài nguyên nông lâm thổ sản của địa phương ngày một cạn kiệt, trong khi công cuộc khai hoang miệt đồng bằng sông Cửu Long đang mở rộng và có sức hút mạnh các lưu dân về hướng đất ấy th́ Cù lao Phố không c̣n và không thể đóng vai tṛ trung tâm nữa, mà phải chuyển vị trí về Bến Nghé - Sài G̣n, nơi có những ưu thế và thuận lợi hơn về nhiều mặt. Tiếp đến, trận chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh xảy ra trong vùng này, đặc biệt biến cố năm 1776 đă tàn phá Cù lao Phố, dù sau này một số dân có về lại nhưng xét ra chưa được một phần trăm thời trước(13). Như vậy, từ buổi đầu h́nh thành và phát triển cho đến khi bị tàn phá, trung tâm thương mại Cù lao Phố tồn tại 97 năm (1679-1776).

3. Có thể nói, hai nhóm di thần - tướng sĩ nhà Minh Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch được chỉ định vào vùng đất mới khai khẩn, song họ vẫn được các chúa Nguyễn cho phép giữ nguyên tổ chức phiên chế quân đội cũ, vừa tiến hành khai khẩn đất sản xuất theo kiểu tập đoàn để tự giải quyết nhu cầu đời sống, vừa có thể duy tŕ tính cách là một đơn vị vơ trang tập trung hầu phục vụ lợi ích của bản thân họ một khi họ cần đến. Từ đó, Tổng binh Trần Thượng Xuyên đă có nhiều công trạng đáng kể góp phần ổn định vùng đất phía Nam. Năm 1688, Dương Ngạn Địch ở Định Tường bị viên phó tướng Huỳnh Tấn tạo phản, giết chết, làm rối loạn trong vùng. Nặc-Ông-Nộn tại Sài G̣n, thừa thế câu kết với Tấn để tiến đánh anh là Nặc-Oâng- Thu, vua Chân Lạp, đóng tại thành Long - Úc, gây khó khăn cho Đại Việt, tạo sự bất ḥa cho Thu bỏ triều cống. Chúa Ngăi Nguyễn Phước Trăn (1687- 1691) thấy rơ manh tâm của Tấn, nên lập mưu, cử tướng Vạn Long hầu Mai Vạn Long ở dinh Thái Khương giả hiệp cùng Tấn với Thắng Long hầu Nguyễn Thắng Long và Tấn Lễ hầu Nguyễn Tấn Lễ đi dẹp quân Thu, nhưng kỳ thực là để hạ Tấn. Vạn Long sai người nói khéo đánh lừa được Tấn đi thuyền đến chỗ hẹn gặp, Tấn vừa bước lên bờ, bị phục binh của Vạn Long từ bốn mặt đổ ra, đánh bất thần. Tấn chạy ra cửa bể Lôi Lạp (Soài Rạp) trốn thoát. Long thẳng đến đồn bắt vợ con Tấn đem chém, rồi chiêu tập dư đảng ''Long Môn'' tŕnh Chúa giao cho Trần Thượng Xuyên quản lănh.

Năm Kỷ Măo (1699) tháng 7, Nặc-Oâng-Thu đắp lũy ở Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam, cướp bóc dân buôn. Trần Thượng  Xuyên sau khi được giao kiêm quản tướng sĩ Long Môn đă phối hợp cùng Nguyễn Hữu Cảnh, Phạm Cẩn Long đánh thắng quân Nặc - Oâng-Thu nhiều trận, bao vây, hạ thành Nam Vang. Tháng 3 năm Canh Th́n (1700), Trẩn Thượng Xuyên đích thân ra trận, giao chiến với quân Chân Lạp, rồi tiến đến Lũy Bích Đôi và Nam Vang, Nặc-Oâng-Thu phải đầu hàng, quân Chân Lạp tan vỡ. Trần Thượng Xuyên đă tâu xin lập cháu rể của Thu là Nặc-Oâng- Yêm lên làm vua Chân Lạp, nạp cống cho Hoàng triều Phủ Chúa. Kể từ đó, các vùng Biên Trấn (Biên Ḥa), Phiên Trấn (Gia Định), Định Tường, Long Hồ (Vĩnh Long) và An Giang, đều được sáp nhập vào Đại Việt (14).

Năm 1714, Trần Thượng Xuyên được cử làm tướng cùng với phó tướng Nguyễn Cửu Phù tiến vây Nặc-Ông-Thâm ở thành La Bích... Oâng lập được nhiều công trận, nên được phong tới chức Đô đốc Thắng Tài hầu và được tọa trấn Phiên Trấn dinh cho tới lúc măn phần (15). Trần Tổng binh mất vào khoảng năm 1720, ngày 23-10 âm lịch và được an táng về mạn Bắc dinh Trấn Biên, sau thuộc huyện Phước B́nh (Tân Uyên) phủ Phước Long Biên Ḥa (16). Trần Thượng Xuyên có người con trai là Trần Đại Định kết duyên cùng con gái của Nghị Vũ Cửu Lộc hầu Mạc Cửu, Tổng trấn Hà Tiên, nguyên là em Gái của Đô đốc Tổng Đức hầu Mạc Thiên Tích. Năm Ất Tỵ (1725), Trần Đại Định nối nghiệp cha, phục vụ dưới triều Chúa Định Quốc Công Nguyễn Phước Trú và được tập phong tước Tổng binh Định Viễn hầu, chỉ huy cả hai đạo binh ''Phiên Trấn'' và ''Long Môn'' (17).

Năm 1731, Trần Đại Định đem thuộc tướng Long Môn đánh quân Chân Lạp ở Phù Viên (Vườn Trầu - Hóc Môn) lập công lớn, ông lại cùng Trương Phước Vĩnh, Nguyễn Cửu Chiêm chia quân làm ba đường truy kích địch đến tận Ba Nam thắng lớn. Năm 1732, Trần Đại Định lại một lần nữa đem quân sang Ḷ Việt (Lô Việt) tiếp tục đánh thắng quân Chân Lạp. Tuy nhiên, do vụ án Nguyễn Phước Vĩnh khiến Trần Đại Định bị oan và chết trong ngục thất Quảng Nam vào giữa tháng chạp. Chúa Nguyễn Phước Chú thương xót ông cho truy tặng hàm Đô đốc Đồng tri. Cháu củaTrần Thượng Xuyên là Trần Đại Lực do có công cũng làm đến chức cai đội cho đến lúcTây Sơn vào đánh Gia Định năm 1776 (18).

4. Chúa Nguyễn từng có lời dụ rằng: ''Họ Nguyễn làm vua, họTrần làm tướng, công khanh đời đời không dứt (19). Đây là sự ghi nhận công lao to lớn của Trần Thượng Xuyên. Ông không chỉ có công tập hợp thương nhân lập ra Cù lao Phố với hoạt động thương mại tấp nập, phát triểnphồn thịnh, trở thànhđầu mối buôn bán của cả miền Đồng Nai - Gia Định, mà ông c̣n có công mở mang vùng Bàn Lân (Tân Lân) – nay kế chợ Biên Ḥa. Đồng thời lập những chiến công lớn giúp nhà Nguyễn dẹp yên và ổn định t́nh h́nh ở Đàng Trong và mở mang bờ cơi phía Nam.

Thơ vịnh Trần Thượng Xuyên (20)

Thâm thù giặc Măn, nặng nhân luân,

Nuốt hận chia ly với tử phần.

Đành dứt trời Ḥa cam nhớ nước,

Quyết sang đất Việt để làm dân.

Thanh Hà một xă nông thương tụ,

Phiên Trấn đôi dinh tước lộc nhuần.

Xứ Bưởi truyền lưu công nghiệp lớn,

Báo đền kia đó miếu Tan Lân.

Sự có mặt của di dân người Hoa từ thế kỷ XVll, XVlll đă góp phần ~tạo nên những chuyển biến quan trọng về kinh tế - xă hội và văn hóa ở Đàng Trong. Đối với một số nhóm người Hoa, trong đó có nhóm của Tổng binh Trần Thượng Xuyên, sau khi nhận quan tước, họ thành thần dăn của chúa Nguyễn, họ đă có những hành động thiết thực giúp các chúa Nguyễn mở mang và củng cố chủ quyển trên đất Đồng Nai - Gia Định. Đồng thời, họ cũng xây dựng nên một cộng đồng người Hoa vững chắc ở nhiều nơivà đă xây dựng được nền tảng cho sự phát triển của họ về sau. Có thể nói, công cuộc khai phá vùng đất phía Nam, nhất là vùng Đồng Nai - Gia Định trong các thế kỷ XVll, XVlll, có sự đóng góp đáng kể của bà con di dân người Hoa. Các đất Biên Ḥa, Mỹ Tho, Hà Tiên và nhiều nơi khác sở d có được bộ mặt như ngày nay là do có nhiều công sức của bà con người Hoa di cư trong buổi ban đầu, họ trở thành một thành phần không thể tách rời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

 

(1) Lương Văn Lựu, Biên Ḥa sử lược toàn biên, quyển thứ 2, Biên hùng oai dũng, xuất bản 1973, tr.115.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn), Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997, T.5, tr. 184.

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hóa, Huế 1997, T.5, tr. 81.

(4) (5) (6) Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập Trung, tr. 20-21, dẫn lại Địa chí Đồng Nai, (tập3 - L.Ich sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 108 - 109.

(7) Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, 1998, tr. 194.

(8) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, 1998, tr.24

(9) Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục, Q.VI, tr.441, dẫn theo Địa chí Đồng Nai, (tập 3 - L.Ich sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.

(10) Lê Quư Đôn. Phủ biên tạp lục. QIIl, tr.223, dẫn theo Địa chí Đồng Nai, (tập 3 - Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.

(11) Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục, Q. VI, tr.375, dẫn theo Địa chí Đồng Nai (tập 3 - Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.

(12) Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Q. VI, Thành tŕ chí, tr.28a-b.

(13) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dich, NXB Giáo dục, 1998. Tr. 195.

(14) Lương Văn Lựu, Biên Ḥa sư ûlược toàn biên, quyển thứ II - Biên Hùng oai dũng, xuất bản l973, tr. 118.

(15) Vũ Huy Chân, Ḷng quê: nhân vật - thắng cảnh - di tích lịch sử, l973, tr.86

(16) Lương \/ăn Lựu, Sđdi tr. 119.

(17) Lương Văn Lựu, Sđd. Tr 119.

(18) Dương Văn Huề! ''Thêm đôi điều về các nhóm người Hoa ở Gia Định thời các chúa Nguyễn, tr. 379 dẫn theo trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Nam bộ và Nam Trung bộ - Những vấn đề "Lịch sử thế kỷ XVII-XIX, Kỷ yếu hội thảo, tháng 5-2002.

(19) Lương Văn Lựu, Sđd, tr. 120.

(20) Xin dẫn lai bài thơ vịnh này của tác giả Vũ Huy Chân (Ḷng quê, nhân vật, thắng cảnh - di tích l.Ich sử, 1973, tr.86) đểchúng ta hiểu hơn về con người Tổng binh Trần Thượng Xuyên - nhân vật đă có nhíều công lao với vùng đất Biên Ḥa - Đồng Nai.

 

 Tài liệu tham khảo chính

1.Đạí Nam nhất thống chí- Lục tỉnh Nam Việt, tập Thượng - Biên Ḥa, Gia Định - Nhà Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa. 1973.

2. Địa chí Đồng Nai, (tập 3 - Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001.

3. Huỳnh Lứa, Góp phần t́m hiểu vùng đất Nam bộ các thế kỷ XVll, XVlll, XIX, NXB Khoa học xă hội, 2000.

4. Li Tana, Xứ Đàng Trong - Lịch sử kính tê- xă hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, TP.HCM, 1999.

5. Lương Văn Lựu, Biên Ḥa sử lược toàn biên, quyển thứ II - Biên Hùng oái dũng, xuất bản 1973.

6. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí, 1967.

7. Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Nam bộ và Nam Trung bộ - Những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII-XIX Kỷ Yếu hội thảo, tháng 5-2002.

8. Vũ Huy Chân, Ḷng quê: nhân vật - thắng cảnh - di tích lịch sử, 1973.

Tiến sĩ PHẠM PHÚ LỮ

(Viện Khoa hạc Xă hội vùng Nam bộ)