Ngại Ngùng

Vinh-Lan

 

Bà mai Sáu dẫn mẹ con của ông kỹ sư Khiêm chạy vào cái quán nằm ở ven con đường đất khi mấy giọt mưa bắt đầu đổ.  Vừa ngay sau đó là cơn mưa trút xối xả, chỉ mấy phút sau làm ngập cả cái rãnh chạy theo con lộ.  Ba người nhìn nhau, mừng rỡ là mình may mắn tìm kịp chỗ đụt.

Dì Năm chủ quán lật đật quét cái chõng tre nằm sát vách lá để mời khách ngồi.  Dì hơi lúng túng vì bất ngờ có khách sang trọng vào cái quán nghèo chỉ có những món đồ vặt vãnh cần thiết cho hàng xóm.  Thầm nghĩ là chắc người ta chỉ cần đụt mưa, nên dì làm thinh đi ra sau lò nấu nước.

Sau khi đã bình tĩnh lại, bà Sáu mới hỏi vọng ra sau:

-     Chị buôn bán có khá không vậy?

-     Dạ cũng tạm sống qua ngày.  Tôi đâu có vốn liếng gì nhiều nên chỉ có mấy món hàng lặt vặt để bà con trong xóm khi thiếu bất tử thì không cần phải chạy ra chợ.

Khi dì Năm bưng nước ra mời, bà Trân, mẹ của kỹ sư Khiêm, nhìn dì với đôi mắt đầy thiện cảm:

-     Tụi tôi làm phiền chị quá.  Ðã cho đụt mưa mà còn trà nước nữa.

Dì Năm cười thật thà:

-     Dạ, đâu có chi.

Bà Sáu nói, giọng thân mật xã giao:

-     Coi vậy chớ thời nầy đi kiếm người tử tế không dễ đâu nghe.  Không dấu chi chị, tôi là bà mai, dẫn ông kỹ sư ở bên Ðức mới về và bà thân sinh của ông đi coi mắt con cháu ở xã bên dưới.  Con nhỏ con của ông luật sư làm trong Hội Luật Gia tỉnh đó, chắc chị thế nào cũng biết mà.

Dì Năm cười thủ phận:

-     Dạ, chắc tôi cũng biết biết vậy thôi, chớ tôi tối ngày lu bu với cái quán rồi chiều về nhà với con cháu, có để ý tới ai đâu.

Bà Sáu cười, bà Trân cũng cười theo, chỉ có ông kỹ sư Khiêm thì có vẻ như hơi ngượng ngùng vì chuyện của mình bị kể một cách công khai.  Khiêm theo mẹ sang Ðức với dạng đoàn tụ gia đình khi mười hai tuổi.  Vốn bản tánh hiền lành, lại được dạy dỗ theo khuôn phép nên tuy lớn lên trong xã hội Âu châu mà Khiêm không bạo dạn lắm trong vấn đề bạn gái với người bản xứ, còn với người cùng xứ thì chàng cũng không hăng hái đi tìm mối giao lưu.  Bà Trân lo lắng vì chàng đã ba mươi sáu mà vẫn không chịu nghĩ đến chuyện đôi bạn để bà có cháu ẳm bồng, nên nhắn về quyến thuộc nhờ người giới thiệu giúp.  Lại mất cả năm trời chờ đợi bà mới được tấm ảnh của một cô gái, tuy không xinh đẹp lắm nhưng cách trang điểm chưng diện cũng ra vẻ là người có học thức và tân tiến vừa phải.  Cô đang làm việc trong một hãng ngoại quốc, và nghe nói là rất thông thạo Anh ngữ.  Ngoài ra, thân thế gia đình cô đã cho bà Trân một sự tin tưởng và hy vọng.  Khiêm không phản đối, cũng không nồng nhiệt hưởng ứng.  Chàng muốn làm vừa lòng mẹ phần lớn là vì tuổi tác của mình.  Từ trước tới giờ Khiêm không cảm thấy có nhu cầu tìm vợ bức thiết đến phải kiếm những mối giao duyên qua các mạng lưới điện tử như bè bạn cùng lứa tuổi, nên chàng không từ chối việc đi coi mắt vợ theo lề lối cổ điển.

Trong lúc mọi người đều ngồi im nhìn mưa đổ vì không ai biết phải nói với nhau chuyện gì, thì chợt tấm phênh phía nhà sau hé mở, một cô gái mặc áo mưa màu tím lợt len thật nhanh cái thân hình nhỏ nhắn của cô vào.  Cô hỏi dì Năm với giọng lo lắng:

-     Má có đợi con không? Con về không kịp trước cơn giông, rồi con tính chờ trời tạnh vì con cũng không có đem áo mưa theo nữa.  Nhưng mà sợ má trông nên con mượn áo của Xuân Lan …

Cô gái chợt nín bặt khi nhìn thấy khách ngồi trên chõng.  Cô cởi áo mưa máng lên cái móc ở góc nhà, đứng lẩn quẩn một lát ở cửa sau, rồi không biết làm gì cô lặng lẽ đến đứng bên cái cột bằng tre chỉ to bằng bắp chân chống giữa quán.  Cô ôm cái cột với hai bàn tay ở vừa tầm gương mặt, tựa má vào lưng bàn tay chỉ còn để lộ một phần mặt và đôi mắt, nhìn khách nửa như tò mò nửa như ngầm trầm trồ cách ăn mặc đẹp đẽ và thanh nhã của bà Trân và Khiêm.  Bà Trân và bà Sáu mãi ngó ngoài sân nên không để ý tới cô gái, nhưng Khiêm bất chợt cảm thấy như bị điện giựt khi vừa nhìn đôi mắt của cô.  Ðôi mắt chẳng những đẹp với màu đen láy và làn lông mi cong vút mà còn vì nét ngây thơ của nó.  Nó là một cái gì mà Khiêm chưa hề trông thấy, chưa hề mơ mộng, chưa hề mong ước được có, nhưng sự hồn nhiên trong ánh mắt hiếu kỳ đã làm chàng xao động mãnh liệt.  Chàng bối rối quay ra chỗ khác, rồi len lén quay lại.  Cô gái vẫn đứng yên nhìn khách, không biết là người đàn ông trẻ đang có rối loạn trong lòng.

Mưa bắt đầu dứt hột.  Dì Năm đang ngồi trên cái ghế đẩu sau hàng hộp, thau, thúng đựng đủ mặt hàng lặt vặt khác nhau để trên một cái kệ bằng gỗ đóng thành hình như bực tam cấp, day vào bảo con gái:

-     Nhãn, con chạy về nhà coi cái bếp có bị mưa tạt không.  Hồi nãy má chỉ khép sơ cái cửa thôi.  Sẵn bắt một con cá bông lau ngâm trong thau cho má.  Ờ … nhớ hái một mớ rau lang, nghe không?

Nhãn “dạ” rồi chạy đi ra hướng cửa sau.  Cái quán lá nằm chơ vơ một mình trên một miếng đất sát con đường đi xuyên qua các xóm nên cả cửa trước lẫn cửa sau đều có tác dụng như nhau.  Ngoài hàng hóa dì Năm chỉ có một ông lò để nấu nước.  Mỗi ngày dì ở đây từ sáng sớm tới khoảng sáu giờ chiều.  Buổi trưa sau khi tan học Nhãn đến coi quán thay cho dì về nhà ăn cơm, rồi việc làm kế tiếp là học bài, lo săn sóc tắm rửa hai em, cho bầy cá bông lau trong cái ao sau nhà ăn và chuẩn bị những thứ để dì Năm nấu cơm chiều.

Khi Nhãn đi rồi Khiêm mới như bừng tỉnh.  Chàng quay qua mẹ thì thầm.  Bà Trân sửng sốt.  Khiêm lại nói nho nhỏ với mẹ, như có vẻ năn nỉ.  Bà Trân đắn đo, rồi cuối cùng day qua bà Sáu.  Dì Năm thấy lạ, vì bỗng nhiên mấy người khách nói chuyện với nhau điều gì như nghiêm trọng lắm.  Bà Sáu biến sắc mặt, rồi xịu xuống đăm đăm, rồi lại dịu đi.  Bà chợt đứng dậy, khều dì Năm, hai người đi ra đứng ở cửa sau nói chuyện.

Khi ba người từ giã, dì Năm đi theo ra tới đường mà không nói tiếng nào cả, bà Sáu thân mật:

-     Vài bữa nữa tôi trở lại, rồi mình nói chuyện nhiều hơn.

Dì Năm chỉ “dạ” rồi thôi, nhưng nét mặt rất bối rối như vừa bất ngờ đón nhận một sự kiện mà dì không đủ sức phán đoán được đó là rủi hay may.

*

*      *

Tin Nhãn được ông kỹ sư Khiêm bên Ðức hỏi cưới bắn ra như một loạt pháo bông thình lình gây xáo động cả một vùng vì tiếng nổ đột ngột, nhưng cũng đồng thời tạo thích thú vì màu sắc rực rỡ huy hoàng của nó.  Ðầu trên xóm dưới ai cũng bàn bạc về mối duyên kỳ ngộ, về trận mưa của ông tơ bà nguyệt, về cuộc đời như chuyện Tấm Cám, có người biết chút ít chuyện phương Tây thì lại gọi Nhãn là “cô bé lọ lem”.  Dì Năm không ngờ chuyện tình duyên của con mình bỗng trở thành đề tài bàn tán nên trong lòng thấy lo hơn là hãnh diện.  Thật tình dì cũng không rõ tại sao mình lo trong khi đối với mọi người đó là một may mắn hiếm có.  Khi hỏi ý Nhãn về lời dạm hỏi của mẹ con bà Trân, dì cũng rào đón rằng dì để Nhãn hoàn toàn quyết định.  Cả mấy mẹ con đã sống nghèo nàn nhưng quen yên phận nên vừa ý với nếp sống khiêm nhường nầy, thành ra dì không có lý do để mong ước xa vời hay ham tiền ép uổng con.  Nhãn không trả lời dì ngay mà nín im luôn mấy hôm, rồi cuối cùng cô bảo rằng “chịu” mà không thêm một lời nào khác.  Dì Năm nửa mừng cho con được người chồng có tương lai tươi sáng, nửa không yên trong lòng, vì Nhãn như từ đó ít nói hẳn đi.

Phương đang đi chợt thấy Nhãn rảo bước về hướng mình nên luống cuống định quay ngược lại, nhưng Nhãn đã lên tiếng gọi:

-     Phương, Phương đi đâu mất mà sao hổm nay Nhãn không thấy không gặp gì hết vậy? Làm như Phương muốn tránh Nhãn, phải không?

Phương bối rối, ngập ngừng nói:

-     Ðâu có.  Tôi cũng đi học như thường chớ ...  Không gặp Nhãn là tại … không gặp, tôi đâu có tránh …

Nhãn nhìn Phương với vẻ mặt không vui, hình như muốn nói gì rồi không nói.  Cả hai đứng ngó nhau ngượng nghịu, giây lâu Nhãn hỏi:

-     Phương có gấp đi không?

-     Không.

-     Mình ngồi đây nói chuyện chơi được không?

-     Ðược chớ.

Ðôi bạn bẻ mấy nhánh lá trải xuống đất, rồi ngồi bên bờ khúc mương chạy dọc theo đường đi, day lưng ra lộ.  Cả hai im lặng giây lâu, Phương do dự rồi bắt đầu:

-     Nhãn sắp làm đám cưới thiệt hả?

Nhãn gật đầu, gương mặt buồn xo.  Phương liếc nhìn bạn, cảm thấy như bạn có tâm sự gì mà không biết phải hỏi làm sao.  Lại im lặng một lúc.

-     Chừng nào?

-     Nếu không có gì thay đổi thì tháng tới.

-     Rồi chừng nào Nhãn đi Ðức?

-     Chừng giấy tờ xong.

Phương thở dài, lấy chân đá nhè nhẹ vào mấy tàu lá của đám dừa nước mọc dài theo con mương trước mặt, nói bâng quơ:

-     Nhãn sẽ đâu còn dịp ngồi bờ đất như vầy nữa?

-     Ừ.

-     Mà chắc ở bên đó đẹp hơn xứ mình nhiều?

-     Không biết.

-     Nghe nói ở bển lạnh lắm, phải không?

-     Không biết.

-     Nhãn sẽ ở tỉnh nào?

-     Không biết.

-     Chắc Nhãn chỉ ở nhà lo cho chồng thôi chớ đâu có làm gì, phải không?

-     Không biết.

Phương ngần ngừ, rồi hỏi tiếp, giọng thấp hẳn đi:

-     Nhãn nghĩ là sẽ ….  có hạnh phúc không?

-     Không biết.

Phương nổi giận, nói sẵng:

-     Cái gì cũng “không biết” hết thì đi làm gì?

Nhãn nhìn Phương nước mắt rưng rưng.  Phương hối hận, dịu giọng:

-     Xin lỗi Nhãn.

Nhãn cũng bắt chước Phương đá chân vào bụi dừa nước như để dằn cơn xúc cảm.  Rồi với giọng nho nhỏ run run Nhãn nói:

-     Phương không biết chuyện nầy, để Nhãn kể cho nghe.  Má của Nhãn mất hồi Nhãn hai tuổi, chỉ một tháng sau ba đem Nhãn giao cho dì Năm, em của má, rồi bỏ đi biệt tích.  Má Năm thương Nhãn như con ruột nên ít ai biết Nhãn là con nuôi.  Nhãn muốn đền ơn má Năm bằng cách lấy chồng ở nước ngoài để có thể giúp má lo cho hai em ăn học, chớ với đời sống nầy thì giỏi lắm hai em của Nhãn cũng chỉ học hết cấp hai cấp ba rồi thôi … Nhãn không đi tìm mà người ta tới kiếm, tức là trời định, Nhãn chỉ làm chuyện đấng trên đặt để thôi.  Với lại, ngoài má Năm mà Nhãn muốn đền đáp ơn nghĩa, Nhãn đâu còn có ai nữa để mà suy nghĩ là có nên đi hay không.

Phương nhìn Nhãn, thấy lòng se thắt.  Phương rất muốn nói „Nhãn có ai đó chớ!“ và „ai“ đó đã từ lâu muốn nói với Nhãn một điều mà vẫn ngại ngùng không dám nói.  Phương may mắn hơn Nhãn, có một gia đình tạm gọi là khá giả.  Cha Phương, sau khi bị trường trung học công lập cho nghỉ việc, làm nghề chạy xe ôm ban ngày, ban đêm thỉnh thoảng theo yêu cầu có thêm một lớp kèm toán tại gia.  Mẹ Phương chắt mót dành dụm sang được một sạp vải ngoài chợ.  Nhờ thế mà chị của Phương được đi học Nha khoa, còn một năm nữa sẽ thi tốt nghiệp.  Còn Phương thì muốn nối chí cha theo ngành Toán.  Phương tính không còn bao lâu nữa mình sẽ rời tỉnh đi học xa và đó là điều đã làm Phương do dự, ngại ngần, không biết phải bày tỏ tình cảm mình với Nhãn như thế nào. 

Bây giờ thì đã muộn rồi.  Phương nghĩ tới chữ „muộn“ mà lòng nghe đau vô cùng.  Ðau vì hoàn cảnh mà cũng đau khi cảm nhận cái lỗi lầm coi „công danh“ trước tình yêu mới vừa chớm nở.  Phương tưởng rằng con trai phải cứng cỏi, phải biết theo dõi chí lớn để làm nên sự nghiệp chớ không được bị ràng buộc vì tình cảm yếu mềm.  Thấy gương của vài bạn Phương sợ yêu đương sẽ tạo nên bịn rịn thương nhớ và sẽ ảnh hưởng không hay đến học vấn, nên tìm cách lý luận rằng, xa cách biết đâu là một thử thách cho những tấm tình chân thật, nếu quả thật Nhãn cũng cùng mang một tâm sự như Phương. 

Phương thấy chua xót, tự giận mình, tự trách sự anh hùng hóa chí làm trai đã không ngờ đưa mối tình chưa bắt đầu vào giai đoạn kết thúc.  Và trong giây phút cuối cùng nầy Phương thấy mình không có quyền phá hỏng chương trình đền ơn đáp nghĩa của Nhãn, nghĩ rằng nói ra cũng vô ích, chỉ gây rối rấm và làm bận lòng nhau, thôi thì thà mình âm thầm với thất vọng để tâm hồn Nhãn được thanh thản. 

Tuy cảm thấy xót xa lắm nhưng Phương cũng gượng vui tìm cách đánh trống lảng:

-     Chắc trước khi Nhãn lên đường bạn bè phải rủ Nhãn đi chơi hay đi tham quan đâu đó để được ăn cơm nắm của Nhãn.  Tôi nhớ hồi trường tổ chức đi chơi núi Thất Sơn, Nhãn đã lo phần cơm nắm với thịt kho khô, ngon ơi là ngon.  Ăn một lần nhớ tới già!

Nhãn bật cười:

-     Thiệt không?  Phương xạo quá, cái gì mà nhớ tới già lận.  Nhưng mà … nhớ lại coi, hôm đó Nhãn phải thức dậy từ bốn giờ sáng, nấu ba nồi cơm rồi nghĩ cách nhồi nó lại như mấy đòn bánh tét để chỉ cần cắt khoanh khi nào ăn, chớ ngồi nắm từng nắm là ... chết luôn!  Ừ, mà hôm đi chơi đó vui thiệt!  Chừng Nhãn leo núi hết nổi, chị Nguyệt chị Tuyết phải cặp nách Nhãn mà kéo.  Phương còn ngạo Nhãn là „tiểu thơ xã Ðạo Thạnh“ nữa. 

Ðôi bạn nhìn nhau cười ngất, quên mất câu chuyện buồn ly biệt.  Nhãn hào hứng kể tiếp:

-     Lần khác đi về quê của Phương cũng vui quá chừng.  Lần về Vũng Luông đó, Phương nhớ không?  Hồi ra biển, vừa bước xuống nước Nhãn hết hồn thấy dưới chân toàn là nghêu không hà, nhiều như cát vậy, không tưởng tượng được.

Phương cười ha hả:

-     Tôi nhớ mà, Nhãn đứng la bài hãi làm ai cũng tưởng là Nhãn bị miểng nghêu cắt chân.

Nhãn cười ngặt ngoẽo:

-     Quê quá!  Ðã vậy, chừng đi về dọc đường thấy mấy bụi chùm lé có trái chín trong suốt đẹp quá nên ham hái ham ăn, đến chừng lưỡi rát lên gần chảy máu mới kinh hoàng.  Lỗi tại Phương không cho biết trước đó.

Phương nhìn Nhãn âu yếm:

-     Bây giờ Nhãn muốn đỗ thừa phải không?

Nhãn cười, day qua bắt gặp cái nhìn của Phương, bẻn lẻn ngượng ngùng nhìn xuống đất.  Nụ cười biến mất mà trên đôi mắt lại hiện ra nét buồn rõ rệt.  Trong giây phút ngắn ngủi vừa qua, Nhãn cảm nhận một cách sâu sắc tính chất đậm đà của kỷ niệm, của mối liên hệ ràng buộc giữa những người thân, với quang cảnh sống chung quanh mình, với những thứ mà có lẽ mình thuộc về nó và nó thuộc về mình, những thứ đã đem lại hạnh phúc trong một nếp sống mộc mạc, đơn sơ cho những con người bình dị biết yêu thương cái gì mình có trong tay.  Nhãn bối rối.  Mấy tháng nay Nhãn không bận tâm lắm với chuyện ra đi, coi như đó là số mạng, nhưng chỉ vài phút khóc cười với Phương, Nhãn chợt thoáng thấy vài câu hỏi: Mình có nên vứt bỏ cái gì của chính mình để đi tìm cái gì mình „không biết“ không?  Và cái số mạng?  Có phải chăng số mạng đã đánh thức mình ra khỏi cơn mê đưa đẩy con người thả trôi theo dòng đời mà không hề ngẫm nghĩ về tình cảm chân quý của mình?

*

*      *

Mỹ Tho, ngày......tháng… 2006

Anh Khiêm kính,

Còn một tháng nữa là đến ngày cưới và còn ba tuần nữa là anh sẽ về quê, thế mà hôm nay anh nhận được thơ của em, bức thơ của người vợ sắp cưới bình thường rất là thật thà chất phác….  Xin anh cho phép em tỏ bày nỗi niềm khúc mắc.

Em được sanh ra rồi lớn lên giữa mương dừa ao cá, bên những gốc nhãn vồng khoai nên thiệt tình em không có nhu cầu đòi hỏi gì cao xa cả.  Cho đến khi được anh để ý tới và tính chuyện trăm năm, em nghĩ đó là duyên tiền định, không cần phải bận lòng thắc mắc.  Tuy nhiên, những ngày gần đây, khi có dịp gặp gỡ lại những tình cảm của bạn bè, của mọi thứ đã ăn sâu vào tâm khảm một cách tự nhiên đến độ em không nhớ là nó có, em đã nghi ngờ lý lẽ của quyết định ra đi của em.  Anh vì tình cảm mà không nhìn đến gia thế nghèo nàn của em, chắc anh hiểu dễ dàng nếu em vì tình cảm mà phân vân trước một đời sống sung sướng đầy đủ.

Em đã nghĩ rằng, một cuộc hôn nhơn không bắt đầu bằng tình yêu cũng chẳng có gì đáng lo lắm, vì em rất tin tưởng vào con người có phong cách đức hạnh như anh.  Nhưng rồi, như đã nói,  sợi dây thân ái với những gì chung quanh mình đã bắt buộc em phải suy gẫm về những điều mà từ trước tới giờ đối với em không đáng nghĩ ngợi.  Mấy ngày nay em không yên trong lòng với điều thắc mắc, có đúng là khi đã là chồng vợ thì tình yêu sẽ nẩy nở và hạnh phúc tự động sẽ đến không?  Em lo rằng khi chung sống mới tìm thấy những khác biệt của tánh tình, chừng đó liệu  tình yêu đột phát của anh có giúp anh bỏ qua được sự thất vọng hay bực bội tức tối không?  Nếu em không dứt bỏ được thói quen đơn giản của dân quê và lòng thương nhớ về vườn tược cây cối thì em có tránh được nỗi cô đơn trong cuộc sống thoải mái chẳng có âu lo vật chất không?

Em không trả lời được những câu hỏi mới được vạch vẽ trong đầu, vì tất cả đều là những chuyện chưa xảy ra.  Mà chính vì không trả lời được em phải chọn con đường mà em có thể hình dung ra những đoạn quanh co, những khúc gập ghềnh, những chặng thẳng thớm của nó; con đường mà em đã đi qua một khúc rồi và có lẽ em nên tiếp tục đi nốt.

Anh Khiêm kính,

Dư luận hàng xóm sẽ không tha em trong thái độ thất ước ngu dại nầy.  Em sẽ chấp nhận nó như một trừng phạt cho sự phụ tình và phụ lòng anh.  Má em nghe tâm tình em thổ lộ với sự khoan dung nên em cũng cầu mong anh đọc thơ nầy trong tấm lòng độ lượng.

Em chờ tin anh trong hy vọng sự cầu mong đó sẽ thành sự thật.

Kính thơ

Lê thị Nhãn

 

Nhãn đứng đợi chú phát thơ ở lề đường trước nhà.  Sau khi xé đọc ngay bức điện tín, Nhãn vừa định chạy ra quán cho dì Năm hay thì thấy dạng Phương đang đạp xe tới.  Phương cũng chợt thấy Nhãn đứng đó nên vội vàng quày đầu xe.  Nhãn biết ý, gọi :

-     Phương đi đâu vậy?

Phương miễn cưỡng dắt xe đạp trở lại:

-     Tôi mới ra chợ, đang định đi về nhà thì nhớ ra là còn quên một món.  Chắc Nhãn mới được giấy tờ của bưu điện chớ gì?  Nhãn tính hôm nào có đám cưới?

-     Ðám cưới ai?

Phương ngẩn người hỏi lại:

-     Ðám cưới Nhãn chớ ai?

-     Không có!

Phương ngơ ngác:

-     Tại sao không có?

-     Nhãn nói, không có!

-     Tại sao không có?

-     Không có tại sao gì hết!

Phương nghe tiếng tim đập thình thình trong lồng ngực như nhịp trống khi bắt gặp đôi mắt đẹp của Nhãn đang nhìn thẳng vào mắt mình.  Cái nhìn mỗi lúc một sâu thêm làm Phương mở môi muốn hỏi nữa rồi lại ngậm im, như từ bao lâu nay, mỗi lần Phương muốn nói mà cứ thấy ngại ngùng…..