Sng nước Hậu giang v Nguyễn Ngọc Tư

Kiệt Tấn

 

Ph sa nước đục kh dm

Nhớ anh em khc đỏ lm con ngươi

Lần trước, bi Ci rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư đ giới thiệu hai tc phẩm của tc giả ny: Ngọn đn khng tắt v Cnh đồng bất tận. Bi sau đy bổ tc v đề cập tới hai tc phẩm cn lại: Giao thừa v Tạp văn.

Nắng Hậu giang mưa Tiền giang

Nhn nhau m lệ rớt hai hng

Cu ca vọng cổ chm trong tối

Mi mẫn cn rung dưới nguyệt tn

Từ Ngọn đn khng tắt qua đến tập truyện Giao thừa, NNT đ bỏ bớt được tnh chất học tr trong cch kể chuyện v ngay cả trong lối viết. Tư trở nn gi dặn hơn. Truyện kể cũng đơn giản thi, nhưng mạch lạc hơn. Tập Giao thừa gồm 17 tựa truyện cho 161 trang. Thể văn ni chuyện linh hoạt tự nhin, khng cường điệu ồn o. Văn gắn b với đời sống, chơn chất, khng sần si ngổ ngo như lối viết  mới  hiện nay. Cch ni thnh thật hiền ha, khng xốc tp ngang ngược. Người đọc khng thấy ở Tư ci cố gắng  lm văn chương , khng c những cu văn thời thượng, trau chuốt, khng c những kiểu ni om sm m rỗng tuếch. Bnh dị. Đơn giản. Dễ hiểu.  C sao ni dậy . Vậy thi. M tại sao phải ni rắc rối ? Nhiều khi ni rắc rối l nhằm để che đậy một sự trống rỗng, một ci dốt đặc no đ ở mnh. Cho nn phải  rắc rối hết cỡ ni !  cho thin hạ t hỏa v phục lăn ?

Trong tập Giao thừa, phần lớn bi viết c truyện c cht truyện, hay gọi l Đi khi bi viết được dựng ln quanh một chi tiết, quanh một tnh cảm thương ght, quanh một quyến luyến, một quan tm, để ,  c cảm tnh  giữa cc nhn vật trong truyện. Chẳng hạn : Giao thừa, Bởi yu thương, Chuyện vui điện ảnh, Hiu hiu gi bấc, Một mối tnh, Nhớ sng

Đọc vi ba truyện khc nhau, c cảm tưởng Tư m cải lương, m điện ảnh, v cũng c thể l m lm đo ht lun khng chừng (?) C g m lấy lm lạ ? Đ lm dn miền Nam m khng biết m cải lương, khng biết m vọng cổ l một thiệt thi lớn ! Truyện Bởi yu thương nhắc tới gnh ht r khiến cho người đọc ngậm ngi. Hồi xưa, nh ti ở cạnh rạp ht nn ti cũng đ từng chứng kiến hai ba gnh ht cải lương nhỏ r gnh tại chỗ v trời mưa ế khch. Rồi đo kp, hề diễu, người đờn, con nt ln la đi xin cơm ăn trong xm. Nhưng cũng nhờ lng giềng c bc thương tnh nn khng một ai bụng đi. Tnh nghĩa đm bọc đặc th của người miền Nam. Mưa Tiền giang nắng Hậu giang. Những tay hảo hớn sống ngang tng. Tri tim ho hiệp bao trời đất, Bốn biển anh em rượu rt trn...

Ngoi m cải lương, cn c cảm tưởng Tư bị m ảnh bởi tn gọi của cc nhn vật. Những ci tn trở đi trở lại trong nhiều truyện khc nhau, như ng Chn, San, Xuyến, Điệp, Diệu, Giang... Tưởng chừng như những nhn vật đ c thật trong đời sống. Họ bị phăng cuốn trong dng đời bất cưỡng, quanh quẩn trong rạch ngi Hậu giang chằng chịt, nay được Tư phn cắt thnh những mẩu truyện ngắn. Biết đu chừng khi nối liền hết lại, những mẩu truyện ngắn ny sẽ kết hợp thnh một truyện di mạch lạc, một bức tranh đời o le, lm ly, ngang tri.

Cn một thứ khng thể no thiếu được trong tất cả cc truyện của Nguyễn Ngọc Tư. Đ l sng nước: sng bốn pha, nước tư bề! Quơ chỗ no cũng đụng nước, ng chỗ no cũng thấy sng. Nước l nền, sng l dng cho ngi bt của Tư triền min tun chảy, cuốn theo những chữ nghĩa đầy ắp tnh người như ph sa lợn cợn. Sinh đẻ ở miệt Hậu giang, gắn b với cuộc đất C mau như Tư th cũng khng thể no khc hơn được. Dứt sng l dứt hơi thở, cạn nước l cạn mu huyết. L mất hết ci lẽ sống cn. Tư đặt tựa truyện: Dng nhớ (tr. 47). Nhớ g? Nhớ sng (tr. 154). Nhớ sng, nhớ nước, nhớ da diết, nhớ dai dẳng, nhớ muốn khng, nhớ muốn đin. Nhắm mắt vẫn thấy, hn m vẫn thấy. Thấy hoi thấy hủy.

Truyện Dng nhớ : Một người đn ng (gọi l ba) trốn nh theo chung sống với một người đn b (gọi l d) trn ghe thương hồ. Hai người c con với nhau, nhưng rủi ro đứa con nhỏ b lọt sng chết chm. Người đn ng nghe theo lời m, bỏ sng ln bờ cưới vợ khc (gọi l m). V tiếp theo đ, thỉnh thoảng d trở lại neo ghe trn bến cũ để ngng ba, người chồng giờ đy đ vuột khỏi tầm tay mnh. "(...) chuyện xảy ra lu rồi, nhưng người ta vẫn cn nhớ, vẫn cn cắm so trước bến nhớ ba ti, vậy m biểu ba ti qun ci rụp th lm sao qun được" (tr. 51). Cắm so th cắm so, đậu bến th đậu bến, nhưng người ta nhớ thương đứt ruột c thể chạy o lại để gặp nhau, nhưng v lương tm khng lm được, đnh ngồi đy ng ln, ngồi ở trn ng xuống" (tr. 56)

Cn người đn ng trn bờ cũng khng ngớt ngng ra sng m nhớ người thuở trước. "(...) đm đm cả nh đi ngủ, ba ti ngồi ht thuốc trn bộ vạt k trước nh, chống rm ln, ng ra sng" (tr. 50). "Những đm đ, ba ti ht thuốc dữ, cứ nhn chong chong ra ngọn đn đỏ ối, nhỏ nhoi, buồn hiu ngoi kia" (tr. 51) Tm can rời r, tuy c mặt đ m cũng đồng thời vắng mặt: ng đang ở đy nhưng tm hồn ng, tri tim ng, tấm lng ng chảy tan vo dng nước tự lu rồi" (tr. 50)

Bằng lối viết dung dị, Tư đ lm bật sng ln được ci tương tư của hai người tuy cch mặt nhưng khng xa lng. Tương tư đi chốn tnh ngn dặm, Vạn l sầu ln nối tiếp my Ci thương nhớ tơi bời hiện ln theo từng hnh ảnh r nt, khắc khoải theo từng chữ viết dung dị m đng tận tm can. 

Rồi người đn b bỗng dưng bỏ bến sống đi biệt, khng cn bao giờ trở lại bến xưa cắm so mong ngng nữa. V cuối cng người đn ng chết trong mong đợi, thi thể vi chn ở vườn nh. Người vợ cho d c hờn ghen hừng hực cũng thấu hiểu được tấm tnh khắng kht giữa ng chồng bền lng v tnh địch bền dạ của mnh.  M ti vẫn khng ngừng tm d, hỏi để lm g, m ti ni để cho d hay v ni với d, nếu sống m khng gần được, chừng no chết, mời d ln nằm trn đất vườn ti  (tr. 57). Người đn b muốn gip cho chồng mnh chấm dứt dng nhớ. Nhưng liệu được chăng khi dng sng vẫn cn đ, con nước vẫn tri hoi, vẫn tri xa tắp về miền bất tận.  Đ l nỗ lực cuối cng m ti lm để chấm dứt ci cảnh ba nằm bn m m hồn vẫn hướng về những dng sng min man chảy  (tr. 57).

Những dng sng i ! Những dng sng khiến chợt nhớ thơ Nguyễn Bnh :  Sng đụng đu sng, sng gặp sng, Thuyền xui theo nước, nước theo dng. Người về người gặp qu người đ, Ta gặp ai đy giữa bụi hồng ? 

V những dng sng, những dng nhớ của Tư vẫn cứ tun chảy miệt mi, len lỏi trong khắp cng ng ngch Hậu giang. Cuối cng, dng nhớ biến thnh một nỗi nhớ mong khắc khoải: Nhớ sng, bi viết cht trong tập Giao thừa. M khng nhớ sao được, khi cả cuộc đời ba, cả cuộc đời m, cả cuộc đời hai con mnh đều gắn b bền chặt với sng nước. By giờ hỏi lại, Giang ni khng c con kinh, con rạch no m ghe chưa đi qua, khng c đường ngang ng tắt no m ng Chn khng biết. Xui dng, ngược dng, con nước km, con nước rong... Khng ai ni với ai, nhưng cả nh ng đều nghĩ, chắc l sống như vầy hoi, như vầy mi thi. Chị em Giang đa nhau, sau ny lấy chồng ra ring, ba cho mỗi đứa một chiếc ghe" (tr. 156)

Giang tự n nghĩa l sng, ci tn như một định mạng tri buộc từ đời no với rạch ngi. "Giang khng hiểu sao mnh nhớ hoi, nhớ rng rng ci ngy đ. Cho nn qua vm lần no, Giang đều ko con Thủy ra, Giang chỉ, m chết chỗ ny n" (tr. 156). M trợt so t đầu đập vo ci gờ sắt, đi chn cn bu vo ghe, rồi cả thn người hụp vo lng sng, chm lĩm. Vợ chết, ng Chn vẫn tiếp tục chở hai đứa con gi đi bn hng bng xui ngược trn khắp cc ngả sng ngi. Thủy m đất từ hồi nhỏ, từ thuở cn bồng. "Giang nhắc, ờ phải em ham đất lắm, hồi nhỏ ghe đậu bến no chế cũng coi em bắt mệt, cứ xoay lưng l em chổng mng cạp đất ăn ngon lnh" (tr. 159). Chế l tiếng Tiều chu để gọi chị mnh.

Rồi ci mộng ước định cư trn đất liền của ba đ (hay gần như) trở thnh sự thật: Giang ln bờ, lấy chồng tn Thuấn ở Đập Sậy, c đất lm ruộng. Những tưởng một khi đ ln bờ định cư rồi l qun được sng. Nhưng liệu qun được khng? Thỉnh thoảng ng Chn gh qua nh Thuấn thăm con gi v nhậu t t với thằng rể tốt bụng. "Gh Đập Sậy, Giang đi ng Chn ở lại một đm, cho Giang xuống ghe ngủ với con Thủy. Giang than nức nở, "Trời ơi con nhớ ghe qu trời đất đi. Xuống ghe, Giang đưa tay rờ rẫm từng mn hng, từng miếng sạp" (tr. 157). Rưọu v ng ng, Thuấn than thở với ng gi vợ của mnh: Thường th cơm nước, qut dọn xong, để hở ra giờ no Giang lấy xuồng cho đi giờ ấy. Trời đất, n đi đu? Thuấn cười chua cht, Hổng biết, n cho khơi khơi vậy đ ba , con cũng nghi bậy trong bụng, c bữa con rnh đi theo, vợ con cho đ đời rồi n bung cho lủi v đm l, lấy tay vịn, ngồi ở đ. Rồi cho về, vậy   (tr. 158).

Trời ơi ! Nhớ tới nước ny th phải gọi l ghiền mới phải. Nhớ sng ! Hay l ghiền sng, ghiền nước, ghiền bơi, ghiền cho, ghiền ci mui ghe, ghiền ci sạp nằm, ghiền con sng lăn tăn, ghiền dng ph sa ngầu đục, ghiền tiếng nước khua b bm ? M một khi đ ghiền tới mức ny l kể như hết thuốc chữa. Chỉ cn nước trả Giang lại cho sng nước m thi.

Xếp quyển Giao thừa lại, người đọc tự hỏi Giang c phải l người con gi thứ tư trong một gia đnh no đ ở miệt C mau xa mt t t, nơi tận cng đất nước : C Tư. Tư. Nguyễn Ngọc Tư, c gi Hậu giang c ci nhn hiền hậu, c nụ cười thắm thiết v nước da bnh t mặn mi?

Mưa Hậu giang nắng Tiền giang

C em kẹp tc bịt răng vng

Cẩn tim xanh đỏ cng qu lắm

Mắt liếc khua theo guốc rộn rng...

Mưa Hậu giang nắng Tiền giang

Bến sng san st những nh sn

Vng trưa kẽo kẹt em ti ht

Gi đưa bng thắm nở về chng

 Ầu ớ Gi đưa gi đẩy bng trang, Bng bp về nng bng nở về anh Ầu ơ  Nh sn, loại nh nửa trn bờ nửa dưới nước, dựng trn những chưn cột rắn rỏi đng chặt xuống lng sng, sn lt bằng vn. Nh sn rất phổ thng ở vng sng nước đồng bằng Cửu Long, như Bạc liu, C mau, Cần thơ, Vĩnh long, Mỹ tho

Mi đến khi bước chn vo Tạp văn của NNT, Trăm năm bến cũ con đ ti mới bắt gặp lại được chiếc vng đưa v mi nh sn ở miệt ph sa của Tư.  Cửa sau nh ti trng ra sng. Ti thường v đ l một khung tranh, c lc n hiện ln những chiếc tu cao nghệu, hng hục đi qua, che khuất cả dy nh sn bn kia sng  (tr. 163)  Chỗ ti ngồi c chiếc vng con giăng ngang căn chi de ra mp nước  (tr. 165). Nh sn cn đ, con đ cn đ, vng giăng cn đ, m tiếng  ầu ơ  ru em đ vỗ cnh bay đi mất biệt tự lc no. C lẽ kể từ sau năm 75, kể từ lc Tư cho đời v ngủ đưa trn vng, khng cn ai nhớ ht ru con bằng những cu ca dao  ầu ơ v dầu  nữa.

Thời tản cư ở Bạc liu, lc ti 5 tuổi, ghe ba m ti tri giạt xuống tận vng Đầm Chim, Đầm Dơi. Thỉnh thoảng ba ti nhắc tới tn sng Trm Trẹm ở miệt Năm Căn, ti khng nhớ r mnh đ c lần đi qua con sng đ hay chưa. Cho tới lc Tư bơi xuồng ba l đưa ti đi thăm chợ nổi ở C mau, ti mới biết chắc l mnh đang thả tri trn dng sng Trẹm. "Giữa chợ nổi C mau, cảm gic như gặp được những khu vườn của miệt sng Tiền, sng Hậu, như nhn thấy những rẫy khm, rẫy ma min man dọc trn miền sng Trẹm qu mnh" (tr. 136). Ở Bạc liu, C mau, rất đng người Triều chu chuyn nghề lm rẫy với những tiếng gọi nhau rất l chệt  Tiều  : tỉa, hia, chế, số, ta củ, ta nứng (Ni Quảng ni Tiều !) Sng Trẹm, dng sng ngầu đục đ chảy vo rẫy thơ của Lm Hảo Dũng thời chinh chiến  Ấy dng sng Trẹm xưa nay, Cn thương cy mắm rễ ci trn khng. Lnh đnh em một chiếc xuồng, Đời ti lnh trận cỏ bồng chn my . Đời trai thời loạn. Một cuộc binh đao. Một cơn mu lửa tơi bời. Bao nhiu người đ vĩnh viễn nằm xuống trn xứ sở tang thương v bom đạn ?  Hận người con muỗi vo ve, Nn trong cuộc chiến bạn b giết nhau. Ấy dng sng Trẹm tri mau 

Hy chậm dầm bơi lại để đi vo ci chợ nổi của Tư v bắt gặp Cht tnh sng nước.  Nằm giữa lng thnh phố C mau, qung cuối sng Gnh Ho, đứng trn cầu nhn về pha mặt trời mọc, người ta c thể nhn thấy một dy ghe rập rờn xao động cả mặt sng, những ci chn vịt gc chổng ln loang long dưới mặt trời  (tr. 134). Tư thch ni về những ci chợ nho nhỏ họp nhm chm nhum ở miệt ruộng rẫy, những ci chợ chộn rộn đầy ắp tnh nghĩa, thương mến, thn thuộc, nơi m mọi người gần như đều biết hết mặt nhau. Chẳng hạn ci Chợ bn đường ở một lng qu hẻo lnh no đ  Như người phụ nữ chn qu, chợ nhỏ nhoi, hiền hậu, trầm tnh dịu dng () Buổi sng sao m dậy mi thơm nồng hăng của rau hng lủi, hng cy, rau cần nước, cần rừng  (tr. 39) Nhưng g vịt, c tm, rau củ trong vườn nh by ra đ chỉ để mong bn được, trả gi thấp cao, trng chừng, hoặc canh ng thi sao ? Khng, khng ! đu phải chỉ c bao nhiu đ.  Chị em chụm lại rm rả với nhau chuyện chồng con, chuyện hng xm, ruộng la, vườn cy (chuyện xm qu m, ni biết chừng no cho hết)  (tr. 39) Khch từ phương xa tới v c dịp qua ngang chợ, hy để . Hy để cho tận tường, hy ng cho thiệt kỹ, hy ht thở cho thiệt nồng nn đi rồi sẽ thấy

Nắng Tiền giang mưa Hậu giang

Xe lam về tới miệt Ba Cng

Ruộng kh thổi nng la chưn tc

Tc em thơm phức mi dưa gang

Nhưng liệu ni như vậy m đ by tỏ hết được tấm lng của mnh chưa ? Chưa ! Tư cn c thm một ci chợ nữa : Chợ của m.  Ti gọi những ci chợ ruộng dn d ny l chợ của m. Bởi n hiền lnh, lam lũ như m. Bởi chợ nhỏ nhoi, khim tốn như m, nhưng n mang một ci hồn su, mnh mng lắm nn người ta nhắc nhở hoi, thương hoi như thương m vậy  (tr. 151). Trong chợ của m, những người bun thng bn bưng l những ai ?  Họ l những người gắn b mu thịt với cảnh chợ qu ny khng chỉ v mưu sinh m l mối gắn b thing ling. Khng c rau, khng đi chợ, đm buồn. C người lặn lội đi bn từng tri bnh bt chn, khng đủ tiền xe th đi bộ,  miễn sao đỡ ghiền chợ  (tr. 153). Ở thnh thị người ta ghiền quyền lực, ghiền tiền bạc, ghiền karak, ghiền bia m, ghiền xăng nhớt, ghiền ma ty th ở miệt ruộng rẫy ny, người dn qu họ ghiền chợ ! Một loại ghiền rất tốt cho sức khỏe v cng thắt chặt thm tnh nghĩa xm lng.

Đi vo thế giới Tạp văn của NNT, người ta bắt gặp một trời một biển tnh thương v gắn b. V cũng chnh v bởi gắn b liền tay liền ruột với đất đai m người dn qu phải gnh chịu biết bao l phũ phng cay đắng, biết bao l nợ nần chồng chất, biết bao l thất vọng chề. Đi ba người tự tử, rất nhiều người bắt buộc phải bn rẻ đất nh m ngậm ngi bỏ xứ ra đi trong hờn tủi v nước mắt. Rồi sẽ thấy.

Tạp văn chia lm 35 tựa trải đều trn 186 trang. Cũng như trong ba tập truyện trước của Tư, trn trang no của Tạp văn cũng bắt gặp thường trực chữ nghĩa v cch ni miền Nam, đặc biệt l miệt Hậu giang của Tư. Đếm khng xuể, kể khng hết. Bt php cũng vẫn l giọng văn ni duyn dng nhuần nhuyễn v tự nhin của Tư. Lối viết ny tạo cảm gic thn quen, gần gũi. Tuy nhin, cũng nn cẩn thận, chọn lọc kỹ v dng chữ cho chnh xc. V nếu cứ viết phng tng đẩy đưa theo hứng khởi, lối  văn ni  sẽ rơi vo sự dễ di, cẩu thả, lm mất đi phần đng gp cần thiết v qu gi của người viết : sự sng tạo. Một khi sng tạo mất rồi th tnh cch văn chương của bi viết cũng sẽ mất lun, khng cn li cuốn được người đọc nữa.

Hai thể loại Tư thường dng nhứt l ty bt v k sự. Đề ti kh đa dạng : tiếc thương những vng đất cũ, bng hong trước những đổi thay sau  giải phng , lng đng những kỷ niệm về bạn b ngy xưa, m ảnh bởi ci ngho xơ xc dai dẳng của người dn qu, phẩn uất trước thi độ tắc trch v nạn tham nhũng của cn bộ nh nước. Ci tnh chất văn chương ở cc tập truyện Giao thừa, Cnh đồng bất tận đ phải tạm gc qua một bn. Cũng dễ hiểu thi. Chạm trn từng giy từng pht với thực tế cam go, khắc nghiệt, gai gc, thử hỏi cn ai hơi sức đu m thẩn thơ vớ vẩn  Hm nay trời nhẹ ln cao, Ti buồn khng hiểu v sao ti buồn . Trong thời khắc hiện tại, người dn qu bắt buộc phải đối đầu với những kh khăn sờ sờ trước mắt v bắt buộc phải nhận thức  Hm nay trời nặng ln cao, Ti buồn  ti hiểu  v sao ti buồn  ! Đọc Tạp văn mới thấu hiểu được ci thực trạng th thảm của người dn qu miền Nam sau  giải phng .

Bắt đầu Tạp văn l một cuộc hnh trnh trở lui về dĩ vng, khi trời Trở gi.  Thoạt đầu, m thanh ấy sẽ sng từng giọt tinh tang, thoảng v e d, như ai đ dứng xa ngoắc tay nhẹ một ci, như đang ngại ngần khng biết người xưa c nhớ ta khng  (tr. 7). Cơn gi g m lạ vậy ? V cứ hiu hiu như vầy hoi sao ?  () by giờ (n) lớn thnh một dng gi, xấp xải, cuống qut xốc vo tấm tn bn chi đng đ bị đứt đinh từ ma trước. Cồn co. Nồng nhiệt. M thiệt dịu dng. i ! Gi chướng  (tr. 7). Cơn gi chướng ma trước , cơn gi chướng năm ngoi đ trở về thổi vo ci lng xốn xang của Tư những niềm nhớ khng ngui.

Tận cng phương Nam đất nước, nơi mang địa danh C mau, một mũi ph sa nn nả lấn trn ra biển Thi bnh, Đất mũi m xa.  Nơi ấy, những ngi nh đều khng cửa, nh mở toang cho gi nam vo, chướng tới, bấc qua, nhn nh l hiểu người, chn thật đến by cả gan ruột  (tr. 11). Lm nhớ những ngi nh khng cửa do chnh bn tay thợ mộc của ba ti v anh hai ti chung sức dựng ln ở Bạc liu, ở Vĩnh long. Một truyền thống Hậu giang cn giữ được. "Người Đất mũi sao m hiền từ, mến khch thấu trời thấu đất vậy khng biết, dường như sống giữa bao la trời, bao la biển ny, người ta phải học cch thương nhau để khỏi c độc (tr. 14). Ty bt Đất mũi m xa của Tư l một bi viết v cng nồng nn thắm thiết về phong tục v con người đất C mau. Khiến nhớ mun trng.

Gi chướng cn đem về thm cho Tư một nỗi nhớ khc nữa. Nhớ ci đầm nước mnh mng thuở trước, by giờ đ xa. Xa đầm thị Tường.  Đầm Thị Tường l vng đầm nước mnh mng với diện tch mặt nước hơn bảy trăm hc ta, qung rộng nhất gần hai cy số, rộng tay mạnh dầm như dn xứ ny, từ bờ nam sang bờ bắc mất hơn một ngn lt dầm, từ bờ ty sang bờ đng nhn mt mắt  (tr. 20). Người dn đầm Thị Tường chuyn sống bằng nghề đnh l c tm. M c tm hồi thời trước thiếu g, hề, ăn mệt nghỉ. V một khi đ c mồi ngon rồi th tất nhin l phải c nhậu nhẹt. Cư ngụ chung quanh đầm l  những người ho sảng đậm đặc chất nam bộ. Đn ng nhậu một mm th đn b cũng một mm. Đn ng say th ca vọng cổ, () đn b say chỉ nhảy ma cho vơi hơi rượu đi  (tr. 24) Rất nhiều người từ đầm đ ra đi để thnh lập những xm nổi tiếng l khng chiến chống Php, chống Mỹ thời trước.  Nguời dn mc ruột mnh ra m nui cn bộ, sống chết với cch mạng  (tr. 24) Sống th khng biết sao, chớ chết th thấy r trước mắt. Chết để nui hy vọng cho những ngy mai tươi đẹp huy hong, chết trong niềm mơ ước một tương lai xn lạn rực rỡ cho con chu mnh mai sau, dĩ nhin. Để rồi coi. Nhưng cn ci đầm ? Đầm Thị Tường by giờ ra sao ?  Chuyện c tm nhiều v kể quanh năm, chuyện một chiếc xuồng con với vi tay lưới c thể nui cả gia đnh đ qu xa vời. Chuyện xuồng đi tới đu c nược đuổi theo đến đấy chỉ cn l cổ tch  (tr. 25). Phải. Cổ tch, nhưng m l một cổ tch kết cuộc khng c hậu. Buồn năm pht ! Hay buồn năm ngy, năm thng, năm năm ? Buồn di di Buồn mt ma lệ thủy !

Nhưng kht tiếng chống Php v  chống Mỹ cứu nước  đu phải chỉ c mỗi một mnh ci Đầm Thị Tường. Cn một ci x oanh liệt khc nữa. N l một trong ba x vy quanh đầm. Ở đ cũng c ton l dũng sĩ cứu nước, v ton l b gi giết giặc hết trơn chớ bộ. Thiếu g. Đếm khng hết. Ở đu ? Th ở Hưng Mỹ chớ đu. Người dn Hưng Mỹ can trường v trung kin số một.  Nhớ những người dn o v, tay lấm chn bn nhưng một lng theo Đảng, theo cch mạng. Nhớ hng ngn ci hầm đo dưới những vườn dừa bạt ngn m người Php người Mỹ khng tm được lối vo v miệng hầm nằm trong tri tim mỗi cụ gi, em nhỏ  (tr. 43) Đ thấy chưa ? Ni c trật cht no đu. Tới em nhỏ cũng l  con nt giết giặc  lun nữa, huống hồ l mấy b gi v mấy ng gi !

Nhưng by giờ th sao ? X Hưng Mỹ le li tới mức no sau ci ngy  giải phng  năm 75 ?  Ba mươi thng tư ny nữa l trn 29 năm ha bnh. Con đường quốc lộ về ngang qua x vẫn ca hoi bi  Đường chỉ đẹp những khi cn dang dở . X c 3911 hộ, đ ngt 251 hộ ngho, 13 ấp th một ấp rưỡi chưa c lưới điện  (tr. 43). Chỉ tiu m đạt đến mức đ th quả thực l cao cấp, cn thnh tch th hết sức l honh trng, vậy cn đi hỏi g nữa cơ chứ ?  By giờ đất ny cn ngho hơn trước, ci ngho lừa mị người xứ xa, lừa mị những ng quan kinh l ưa kiểm tra lớt lớt  (tr. 44). Kiểm tra lớt lớt l kiểm tra như thế no cơ chứ ? Ny ! Định xc phạm v ph hoại Nh nước đấy phỏng ? Nh nước đang b đầu để xử l một vấn đề lớn lao v trọng tm v cng l vấn đề gio dục. Vậy th yu cầu đường s, điện nước lẻ tẻ lm chi m lắm thế ?  Hỏi c con gi tn Trang đ học tới lớp mấy rồi, c cười, ngho qu, mấy anh em em hổng ai biết chữ  (tr. 45) Khng biết chữ th phải đi học chữ lấy một mnh. Nh nước đu thể học chữ gim cho nhn dn được ! Nhưng đu phải chỉ c mỗi một ci  hổng ai biết chữ . Hưng Mỹ cn c rất nhiều ci  hỏng c  khc nữa.  Hồi đ Thị Tường c  ba khng , khng theo giặc, khng bỏ Đảng, khng bỏ cch mạng. By giờ th  tm lum khng . Khng gạo, khng tiền, khng c, khng rau cỏ  (tr. 47) Ny ny ! Hết ph hoại Nh nước, by giờ cn định bi bc chế độ đấy phỏng ?

Tới đy xin mở ngoặc ni về một hiện tượng đang xảy ra ở đất nước ta. Khi đi karak, kể từ Đ lạt ra tới Huế, ở đu cc em nhỏ hậu phương cũng đều xổ ra ton l giọng miền nam. Ngay cả tiếng  Huệ  cũng lai giọng nam kỳ. T m  hỏi người em nhỏ lạc loi từ đu ?  Em th ni từ Chợ Gạo, Mỏ Cy, Bến Tranh, Chương Thiện Em th  thnh thật khai bo với cch mạng , em l em nhỏ Bến Tre, Giồng Trm, Đồng Thp, Ci Nhum Ton l những vng ủng hộ khng chiến ngy trước. V ton l gi miền Ty. Bật ngửa ! V khi em Chợ Gạo cất giọng mũi nho nhẹt dn d để lm ly biểu diễn karak th vẫn cứ nhứt định l  anh cầm tầm vng vạt nhọn, em cầm dao phay sng ngời, hai đứa mnh phom phom chạy qua cầu khỉ quyết ch diệt th, phất cao l cờ cch mạng  kh thế v cng hng dũng.  Rằng quen mất nết đi rồi !  Ci  tiếng xấu  m cc c gi miền Ty phải hứng chịu ny, Tư cũng đ c dịp ni phớt qua trong Knh thưa anh nh bo ! Khi bạn b hỏi em gi từ đu đến, em gi đ chẳng đặng đừng, l nh, thẹn th thưa thốt :  Thưa, em ở C mau  (v ti lm sao trnh được nh mắt cười cợt, nghi ngại của người thị thnh khi biết ti l gi miền Ty)  (tr. 105). Đng ngoặc.

Trở lại Hưng Mỹ. Lần ny, sau khi đọc kỹ Ngậm ngi Hưng Mỹ lần nữa, thấy ở đoạn kết Tư cũng c nhen nhm ln một cht hy vọng trong lng b con ta đ chớ.  Nghe mấy ng thầy coi nước ni năm nay tm tp kh lắm đy () Khng biết c phải l những lời an ủi, vực nhau đứng dậy rồi bị đồn đại ra khng, nhưng ti biết ơn mấy ng lắm lắm, khi nhen lại ci kht vọng sống trong lng người Hưng Mỹ. Ờ, sống để m bước tới  (tr. 50).

Từ xưa đến nay, hy vọng vẫn lun lun l liều thuốc trị được b bịnh trừ bịnh ỉa chảy dĩ nhin ! Ch Hai sạt nghiệp v đổi qua nghề nui vịt, nhưng c thay, lại trng nhằm ma dịch cm gia cầm. Nợ ngn hng lt đầu. Vậy m trong nh vẫn khng ngớt tiếng cười rộn r.  Rầu cũng ngho m cười cũng ngho, sao mnh hỏng cười, hỏng hy vọng cho đỡ khổ hả c ?  (tr. 113) Ch l ! Thiếm Hai duy vật biện chứng Mc L như vậy rất l ch l, nghe lọt lỗ tai hết cỡ ni. Dn Hậu giang ta bao giờ cũng lạc quan... hết thuốc chữa. V c sao đu? La thất th hy vọng trng ma sau, gi rẻ như bo th cứ đinh ninh năm sau sẽ được gi. Lứa ny tm chết th chờ lứa sau, lc thả bọc tm nhỏ như cy kim xuống đầm, vẫn mong mai ny cn gặp lại chng" (tr. 113/114). Tư chợt bừng mắt trước một điều hết sức hiển nhin hiển nhin tới mức người ta khng để , như ci khng kh mnh đang thở chẳng hạn. Ti nhận ra rằng, nng dn mnh xưa ry c mn đặc sản độc lắm, nhờ mn đ m họ sống từ thế hệ ny sang thế hệ khc, từ đời ny sang đời khc. Đ l "hy vọng" (tr. 113)

Hết vớt tm chết th tới chn vịt sống. Hết cm gia cầm th c liền "bo tm" thổi tới "từ tốn, lặng lẽ, m bo mn sức chịu đựng của con người. Lo g ! "Vớt từng con tm nhỏ bằng ngn tay t ln lng rưng rức, đứt ruột (...) C ai lm g n đu m n chết, mnh qu n cn hơn mạng mnh nữa m? (...) M t hỏa khi biết hầu hết tm giống trn thị trường khng hề được kiểm dịch" (tr. 118) Ny! Đừng c vu oan cho Nh nước nh c Tư! Nh nước ta ngy đm khng ngừng lo lắng đo su giải php cho nhn dn. Nh nước khng ngừng quy hoạch, khng ngừng chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Người khc chỉ rnh c su cu, chứ Nh nước ta th rnh tới su cu... rưỡi. "Người dn bao đời gắn b với cy la by giờ nn nả cho nước mặn vo đồng để nui tm" (tr. 99). Cũng hợp l thi. Cy la cần nhiều nước ngọt m thu hoạch lại qu t ỏi th thay nước mặn vo! Cn chờ g nữa? "Chỉ mới một ma tm (đầu) thi, bc , nhưng đ l ma tm người nng dn vng chuyển dịch vắt kiệt mnh ra trước bao nỗi cực nhọc, buồn vui" (tr. 116) Vắt kiệt? C đừng c qu nhời chứ c Tư. Đ vắt kiệt rồi th lm sao vẫn cứ cn vắt hoi được hoi? "Chuyện tm chết nng dn đ rnh su cu rồi, chỉ khc, đy l năm thứ tư tm chết, nghĩa l năm thứ tư nng dn C mau vắt kiệt mnh trong nỗi lo đi ngho" (tr. 108). Năm thứ tư? Tội nghiệp qu nhỉ ? Nhưng ba bốn năm nay chịu đựng nổi, chắc b con nng dn ta vẫn hy cn đủ hy vọng để m lướt qua năm thứ năm. V khng chừng cn "dư sức qua cầu" lun năm thứ su.

Ma "bo tm" từ tốn v nạn tm chết h rầm dn trải l th trn nhiều bi viết của Tư trong Tạp văn: Ngậm ngi Hưng Mỹ, Thư từ qu, Đi qua những cơn bo kh, Chờ đợi những ma tm, Gi ma thao thức... Trong cảnh cng quẩn, người dn qu ngước nhn ln "trn" để mong cứu gip. Trn" đy khng phải l "trn Trời" hay "ơn Trn", m l "ở trn". Rồi "ở trn" mới ra tay ban php mầu ra lm sao? "Mấy ng Nh nước khng nghĩ ra cch no cứu tụi tui, để vầy hoi, hai năm nữa khng chết đi cũng chết v trộm cướp cho c coi, bần cng sanh đạo tặc, ng b mnh dạy vậy" (tr. 108) Lm g m lo xa qu vậy? Mới chỉ c bấy nhiu đấy thi m b con đ ku trời như bộng ! Cũng tại b con hết đấy chứ. "Bo ch than b con mnh thiếu thng tin, thiếu hiểu biết rầm trời, cc ch "ở trn" nhằn, b con mnh nng vội qu" (tr. 118) Th lỗi tại b con rnh rnh đy ny! "Thuở đời nay, năm no mấy ổng cũng ln ti vi ku năm ny phấn đấu đạt năng suất cao hơn năm trước, khuyến khch giống mới ny trng hơn giống cũ, vậy m lm ra hột la trần thn, bn khng c gi, mấy ổng đổ thừa tại nng dn lm cho cố mạng nn bn khng được" (tr. 184) Nhưng đổ thừa như vậy cũng đu c trật. Lm chi m lm cho cố st, ai m ăn dộng cho hết. Hơn nữa, by giờ b con ta lại cn by đặt phấn đấu với lại năng suất năng siết rm beng. Hồi xưa ở Cờ Đỏ, m tui cũng c một thời cy thu cấy mướn, nhưng đu c biết phấn đấu với năng suất l ci khỉ mốc g! Vậy m vẫn c gạo ăn hoi hoi.

B con cứ đi hỏi Nh nước phải c bổn phận đối với nhn dn. Chớ cn ci bổn phận của nhn dn đối với Nh nước b con để n ở đu? Bộ quăng n cho ch ăn hết rồi hả? "Khi đi bn tay gầy guộc của ti vuốt lại những tờ bạc lẻ nhu nt lem luốc mồ hi, dầu nhớt... để nộp thuế cho đằng phường, nghĩ tới mấy vụ tham nhũng động trời ngay tại qu mnh, nghĩ tới những bữa tiệc vung vinh tiền triệu, chắc ci mặt ti buồn hết biết, m ti cn khc, hổng chừng..." (tr. 166) Thi m Tư! "Lau mắt đi em, đm đ khuya rồi, buồn chi nữa em?" Tư hy bắt chước ci lạc quan kinh nin của m mnh. "Ai biểu lm nng dn lm chi. Chỉ hy vọng mấy ng "ở trển" lm cch no cho dn bớt khổ, m ti nhấn mạnh, bằng ci giọng hết sức tin tưởng, "Mấy ổng hứa rồi..." (tr. 185). Đ thấy chưa! Ngy no m mấy ổng cn hứa th b con ta vẫn cn c "quyền" hy vọng. Hy vọng dng cao, hy vọng min man, hy vọng trn trề, khng biết để đu cho hết. Vậy th b con cn than ci nỗi g? "Thi thi... Đủ lắm rồi! Xin đổi gim cho tuồng khc. Thnh thật cm ơn đồng ch".

Khi bị vy kn bốn bề bởi những kh khăn của đời sống, người ta thường c một phản ứng rất tự nhin để bảo tồn lấy mnh: chạy trốn ! Bỏ đi nhậu, đi karak, đi du lịch. Hoặc coi phim bộ, đi ăn tiệm, đi gặp gỡ bạn b, ni chuyện to lao, đn đm ca ht. Nếu khng lm g được hết th người ta chạy trốn thực tại bằng cch li su vo ci khng thực. Thả hồn về những kỷ niệm đẹp ngy cũ. Về những k ức c bng mt cỏ cy, c tiếng nước vỗ lch tch, c tiếng l khua tm sự r ro. Về những dng sng thương nhớ, về những đ xưa bến cũ, về những cuộc tnh dang dở by giờ đ my tri...

Nắng Tiền giang mưa Hậu giang

Sng Mỹ đ đưa bến Vĩnh Trng

Bn cha ti đ m em siết

Xa rồi cn tiếc chuyến đ ngang

Ci phản ứng để tự vệ của Tư trước những bức bch của đời sống cũng vậy thi. Trong đời Tư cũng đ từng c những dng sng cũ, những bến đ xưa, những Trăm năm bến cũ con đ. "Trăm năm để lỡ hẹn h, Cy đa bến cũ con đ khc đưa". Một bến đ cũ no đ để Tư thả hồn mnh về đ nổi tri, hầu dm bớt đi những nỗi muộn phiền đang vy khổn tư bề. "Bến đ nằm cạnh nh. C thể nghe được tiếng bước chn người xon xoẹt lại qua, nghe mũi đ chạm lịch kịch vo bến, v tiếng cho chm ngọt vo mặt nước những lt cắt dy. V nhiều khuya nghe tiếng gọi đ xao xc (...)" (tr. 163). Rồi tự hỏi biết đu chừng mnh đ nghe lộn tiếng g thnh tiếng gọi đ của ai đ . "Đm nghe tiếng ếch bn tai, Giật mnh cn tưởng tiếng ai gọi đ" . Khch đi đ cũng khc nhau lắm. C khi l những người phụ nữ đi chợ sng lấy đ trưa trở về bn kia sng. C khi l đm học tr đứng ngồi lc nhc trn đ qua bờ bn ny để tới trường. "C người qua đ rồi quay về, c người khng trở lại. Bến đ cũng l nơi nhiều đứa con gi qua sng ln thnh phố rao bn mnh trong những "chợ vợ", để lại mấy thằng con trai chiều chiều ra bến đn đ đời mới ngơ ngc, trời ơi, mnh đang chờ ai đy?" (tr. 166). "Chiều chiều chim vịt ku chiều, Bng khung nhớ bạn chn chiều ruột đau... Dứt một cuộc tnh. Tn một đời trai. Rồi đời trinh nữ. Khc đi em !

Dng sng cũ, con đ xưa đ m đềm đưa Tư lng lng vo Đi bờ thương nhớ. Chiều qua, Tư nhận được thư của bạn mnh bo sẽ cố thu xếp trở về cố hương thăm nh. "Rồi bạn kể ra một dọc những cảnh moi từ k ức cũ, no l những tn cy trứng c đằng gc sn, hng điệp đỏ gie mnh ra m nước che ci bến, mấy chiếc xuồng ba l buộc dập dềnh vo chn cầu" (tr. 123) Bạn xa xứ vậy m đ 12 năm rồi. Mười hai năm đ tri qua, biết bao l vật đổi sao dời trn ci xứ sở nt tan ny. V cũng biết bao l đổi thay trong cng cuộc v vu lại đất nước. V vậy, khi thấy bạn mnh nhắc nhở những cảnh xưa m bạn cn nhớ, Tư đm lo ngay ngy cho bạn mnh. "Nh cũ của bạn ti nằm đu? Ci xm nhỏ nhn ra sng, đn nắng từ sng, uống gi từ sng đ by giờ đu? Thở di. Những ngi nh trống huơ, hoang tn, trơ trơ gạch ngi, ci cn ci đ ngụp một nửa dưới nước..." (tr. 124). Khi thư bạn nhắc lại cảnh cũ người xưa, Tư cũng thầm tiếc v ước ao mnh c được php mầu để dựng lại ngi nh cũ, trồng lại hng điệp đỏ, trồng lại cy trứng c l mềm năm xưa, v cn nhiều thứ khc nữa... Nhưng rồi Tư bỗng giựt mnh chợt nghĩ lại. "Tỷ dụ như ti lm được những điều phi thường ấy th bạn của ti ơi, ci hồn qu, hồn đất năm xưa đ khng cn. M tnh bạn cũng như ti, khăng khăng hoi: "Hoa no đẹp bằng hoa tuổi nhỏ, Ổi no ngon bằng ổi năm xưa. Kỷ niệm của những ngy tuổi trẻ v gi" (tr. 128). Chẳng những v gi m lại cn hết sức cần thiết nữa. m vo lng mnh kỷ niệm dĩ vng (v m lun cả hy vọng tương lai) như ci phao nổi, hầu giữ cho mũi mnh cn l đ trn mặt nước trong hiện tại để m thở. Cũng được ! Cũng tốt thi !

May mắn thay ! Trong lc Tư cn lặn hụp chới với giữa dng kỷ niệm ngoi khơi th cn c được một người đứng trụ hai chưn rất vững trn đất liền để m... lạc quan. Phải ! C thiệt. V Tư đ gặp con người lạc quan đ: nhỏ Bo! "M ơi ! Con quạ n đứng chuồng heo, N ku bớ m bnh bo chn chưa ?" "Chn rồi ! Đừng c ku nữa, coi chừng tắt tiếng !" Bo ! Một nhỏ bạn lu qu chừng khng được gip mặt. M gip mặt rồi th sao ? "Bo rối rt mời tới nh chơi, m, ci giọng của con bạn, trời ơi, n tươi ri, gin tan, sung sướng, tự ho (...) Rồi n cười hực hỡ, rạng rỡ, như thể nh n l một thin đường" (tr. 60) Một thin đường ! Thiệt sao ? Ci nh của con nhỏ đ ra lm sao m n le li qu cỡ thợ mộc vậy ? "Ai d nh n nằm tuốt trong con hẻm Cỏ sau lưng siu thị. Đ l một con hẻm di, hẹp te, tối tăm, snh bn ọp ẹp, ngoa ngoắt (...) điệu ny, tới cuối hẻm, chắc nh chỉ cn bằng ci miễu ng T" (tr. 60) "Hong hn dần xuống, tiếng chung chiều dần dần vẳng xa, em Bo xanh lướt nhẹ gt hồng từ từ tri su vo hẻm Cỏ tm, để rơi lại sau lưng mnh một mi hương vương vấn của cỏ nội hoa đồng... Tuyệt ! Thơ mộng ngất ngư. Lng mạn thấu trời ! Vậy m ch con người ta l ch ra lm sao ? Cn ci nh của c n honh trng tới mức no m dm ch nh con người ta một cch khng c cơ sở v dấu ấn g hết trọi vậy ? "Nh ti nằm ngang chợ phường, quay lưng với sng, ngửa mặt đn bụi đường, trong nh khng lc no ngớt tiếng xe, tu chạy (ti ngồi viết văn ở đ, giữa tiếng động chi gắt khủng khiếp của tu xe, tiếng nhạc nhng nhằng từ xe kẹo ko, tiếng những người đn b bn chợ c cự ci nhau)" (tr. 61/62). C vậy thi ? Vậy m cứ tưởng đu nh c l một thin đường v cng cao cấp, đp đng tiu chuẩn ISO v đầy đủ hết mọi chất lượng quốc tế chớ. Lm con người ta hết hồn, thiếu cht nữa t lăn c dưới đất !

Con nhỏ Bo c lời tha thiết như vậy, nhưng khi l d quanh co, quẹo mặt quẹo tri cho tới hết ci hẻm Cỏ để bước v được thin đường của con nhỏ Bo rồi th thấy n ra lm sao ? "Mi lợp bằng l cũ mm, ngửa cổ đ thấy lấp lnh trời sao. Nước bưng ra để ci cộp, khch chưa kịp uống l mục đ rớt vo, nn nước nghe thơm mi l lắm" (tr. 61) "H ! Ci lầy mời chế dẩm x h !" Tuy nhin, biết đu nhờ uống được nước tr c pha mi l lợp nh thm nin của nhỏ Bo m Tư ngộ được thiền v ngộ được lun ci Tri tc tiện tc, đi tc h thời tc" của người xưa ? "Ti tới chơi một lần tự dưng buồn, nghe thất vọng qu trời đất, nghe trong lng c một cht ghen hờn. Con Bo học hnh lở dở, nghề nghiệp cũng chẳng cao sang, sao n lại ngộ chữ "tri tc", cn mnh th khng ?" (tr. 61) Phải ni "chưa" th đng hơn l "khng". Cần phải kin cường học tập cch mạng thm nhiều hơn nữa, cần phải khởi nghĩa thm nhiều bận nữa, may ra. Bởi lẽ, "biết đủ th l đủ, chớ biết tới mức no mới l đủ by giờ ? Rồi nghĩ tới nghĩ lui gần nt c, Tư mới gẫm ra: "Ti chn thnh cảm ơn những cuộc đi xa, n lm cho ti biết nhớ nh, ờ, miễn l nh-của-mnh, thi th, sao cũng được" (tr. 63). Trong thm tm mỗi người, ai cũng thiết tha c được Một mi nh. L ci chắc!

Bước ra đường gặp con nhỏ Bo lc no cũng tch cực lạc quan v lc no cũng sẵn sng cất tiếng cười tươi ri th sức mấy m buồn nổi ! M Tư cũng hn lắm nghe. Ngoi con nhỏ Bo vui vẻ kinh nin ra, Tư cn c thm được Một người bạn khng biết viết văn. V cũng khng bao giờ biết buồn lun: Nguyệt ! Bữa Tư đang uốn tc ở tiệm cạnh nh, ci đầu chơm bơm, tc tai cuốn từng cuốn như chả gi th b tin Nguyệt thnh lnh ging thế. Bất ngờ gặp nhau, mừng thi hết biết. Khi Tư "thnh thật khai bo với cch mạng" l mnh lm nghề viết văn, Nguyệt " ln một tiếng cảm thng rồi chia sẻ nỗi niềm với Tư bằng một ci giọng hết sức l tội nghiệp xt xa: "Vậy , ờ, rng đi, ai biểu hồi nhỏ mầy giỏi văn lm chi". Lời của n thiết tha đến nỗi lm ti tin rằng mnh tội nghiệp thiệt, thấy thương qu đi. Người khng viết văn sướng hơn mnh nhiều" (tr. 52) Vậy ? Nguyệt tỏ vẻ ch ci nghề viết văn, cn n, n c lm được chuyện g "kh" khng ? "N giỏi giang, chu đo, lm việc no ra việc ấy (chắc l v khng biết viết văn như ti ?). Nấu mn no chồng cũng thch, bạn b chồng tới nh hai năm sau cn nhắc bữa ăn c lc luộc mẻ nghe ngon tới by giờ" (tr. 52). Được lắm. Nấu nướng như vậy rất l đng khen. Nhưng về mặt nghệ thuật, ci sở thch, ci gu của n c siu" lắm khng ? "N ni n khng thch phim Mỹ, kh hiểu lắm, hổng giống phim Đi loan, coi lần no cũng khc muốn chết" (tr. 53)

Tới nh bạn chơi, đưa mắt ng ln ci kệ sch lo ho thấy khng c quyển no mang tn tc giả Nguyễn Ngọc Tư, nh văn nhớn bn hỏi chớ bạn ta đọc sch g ? "Nguyệt kể ra no l "Tnh như my khi", "Yu mi người ơi", "Mai em theo chồng"... loại sch vừa dễ hiểu vừa c chữ bự coi khng mỏi mắt" (tr. 55). Dĩ nhin ! Tại sao phải kiếm chuyện kh m lm ? Tại sao phải kiếm chữ nhỏ m đọc cho li con mắt ? Rồi than mệt. Mệt cầm canh !

Nguyệt kiếm cch gặp gỡ bạn b lu b. Cn Tư th bận viết văn (lm đại sự !) Khi bận viết th đnh gc chuyện đi chơi với bạn qua một bn. Khi rảnh rang tm bạn để chơi v để nhậu (d ! d !) th chẳng c ma no. Buồn năm pht ! V trong một pht hoang mang, nng chợt ớn lạnh rng mnh ba ci rồi lắng nghe c đơn chầm chậm lấn v ci tm hồn tội nghiệp nhỏ b bằng cỡ bn tay năm ngn của mnh. "Nguyệt th chẳng bao giờ c đơn như thế. N để dnh cả một tm hồn khng vướng bận để quan tm, chia sẻ, chu ton hết thảy chuyện lặt vặt của cuộc đời. Cn ti..." (tr. 56) Cn ti th sao? Bộ tnh xuống vọng cổ sao đy c Tư ? Ni trước đi cho người ta hờm sẵn để m phựt đn mu đng bon cho n ăn rập. Cn ta... Ta phải chịu bấy nhiu điều đau khổ cay đắng như dy v như cấu x cho tan nt mảnh tơ (ơơờ)... lng !" (Phựt đn !) Ủa, bộ tưởng vậy m hổng phải vậy hả ? "Cn ti th đang đứng trn biển văn chương mnh mang chưa thấy đu l bờ bến, đường đời cũng dở sống dở chn, chưa đu tới đu, hai vai khng trọn vai no" (tr. 56) "Chưa thấy đu l bờ bến" ? Bộ bỏ qun ống dm ở nh rồi hả Tư ? M cũng nn coi chừng v bảo trọng lấy thn mnh nghe Tư. Cứ đứng hoi trn biển văn chương th bảo đảm sẽ bị dnh mực tm lem. V hơn nữa sẽ cn bị ướt hết quần o rồi cảm lạnh, ch x nhảy mũi um sm đ nghe.

Khi lm ci nghề đi biển hết sức phiu lưu, thỉnh thoảng Tư cũng kiếm người thn để trt bớt bầu tm sự, xả bớt ra một đi lời cho n nhẹ nhng... (qu trời my !) Đ l Lời cho m của Tư. Thỉnh thoảng về qu thăm m, Tư than thở lm ci nghề viết văn c độc, cực khổ qu m ơi, m ti lặng lẽ buồn hiu. Buồn v khng hiểu văn chương, khng thể du dắt, nng đỡ ti trn con đường nhọc nhằn đ, nhưng m khng hay rằng m gip ti nhiều lắm (tr. 155) Tư hằng tin như vậy. V sẽ vẫn cn vững tin như vậy nữa, tin triền min, tin di di, lng tin khng hề hao hớt đi theo ngy thng. Tư lun lun tin rằng "Vẫn cn những ngy di pha trước, mai ti sẽ về thưa với m, d ti ni cu ny hơi trễ trng nhưng c cn hơn khng, rằng chưa c bao giờ m ti dạy ti viết văn, nhưng những g ti viết ra đều mang hơi thở cuộc sống m m trao tặng" (tr. 158).

Ai cũng c một b mẹ để m m ấp, để m thương, để m nhớ. Đối với ti, tiếng m" gợi hnh ảnh những "b gi qu hương", những b gi c ln da nhăn nheo thơm tho mi đất, c bn chn nứt nẻ ph sa, c tri tim từ bi v lượng, tri tim đ đ bơm mu vo cuống rn ti từ lc ti cn nhỏ xu, lớn chưa bằng đầu ngn tay. M ti l một trong những b gi qu hương đ.

Nắng Hậu giang mưa Tiền giang

Nắng mưa mưa nắng chn ma mng

Vm cao tre trc nghing nghing bng

Tru ngh lim dim np nắng chang

Đối với ti th l vậy. Nhưng đối với Tư, tiếng m gợi ln hnh ảnh g ? "M ti l nng dn, suốt qung thời gian cầm bt, mỗi khi ti viết về người nng dn ti lại nghĩ tới m. Trong ti hiện ln một khun mặt sạm đen nửa đm thao thức, nghe gi về lo la đang trổ ngoi đồng bị lp hạt" (tr. 154). M đu phải chỉ c lo sung vậy thi. M lm quần quật cả ngy. Lm từ sng sớm tới trưa, từ trưa tới chiều, từ chiều tới sẫm tối. C khi ban đm cũng lm lun. Lm ruộng, trồng rau, tưới rẫy, lm gin cho dưa leo, mướp, đậu rồng, xới đất, ln giồng, xch nước... Bấy nhiu cng việc đ theo ngy thng đ dần dần biến hai bn tay m trở thnh "cục mịch, với những đốt xương th m sng gạo như ma trong trưa vắng (...) Kẽ tay m đầy những mảng nước ăn, đau nhức tới từng đốt xương sao m khng than hả m ?" (tr. 154/155). Đ l dn qu m lại cn lm ruộng th tới ma cy cấy, m phải lội bn, lội nước v cng vất vả. Lội năm ny qua thng nọ. "Đi chn ấy từ mười tuổi đ biết khc. Chn m ngắn, ngn ngắn, chỉ rộng bề ngang nn nhn n to b b" (tr. 182). Ng thấy bn chưn m sần si nứt nẻ Tư cũng xt ruột lắm. Thỉnh thoảng Tư bỏ ra cht thơ giờ để chăm sc cho m. Lu lu, như buổi tối nay, ti nơ chn m ln cắt mng cho m, lại thấy mng dy thm sớ, phn che bt ci phần hột gạo đục ở trong, vng hoe hoe vng. Dưới gan bn chn, chai nhiều chỗ, pha gt th nứt nẻ như đồng kh ma hạn. Gi trở bấc, chỗ nứt tứa mu, lại nứt su hơn" (tr. 182/183). Hồi nhỏ, ti khng để coi bn chưn m ti ra lm sao, n c trần ai như vậy khng. Chớ bn tay đục đẽo của ba ti th ly kỳ lắm ! dề kịch cợm th chẳng ni g. Đằng ny, mng tay của ba ti n dy mo, khng c kềm đục no m cắt cho nổi. Chỉ cn nước lấy cưa thợ mộc ra m cưa vng vng như người ta cưa sừng nai vậy đ. Mạt cưa v mng tay rớt ra cả đống. Chịu thua ng gi !

Quanh năm suốt thng loay hoay với la gạo nn m Tư gắn b cả cuộc đời mnh vo cy la. Theo m tin, "la c linh hồn. Khng biết m trao cho đm la cn non nớt kia bao nhiu tnh thương yu, bao nhiu hy vọng (...) B c tnh thương yu ruột rng vo cy la, b tin tưởng mạnh mẽ vo kinh nghiệm nắng sương mấy mươi ma rng r của mnh. Để coi, tnh ma ny nữa, m ti lm ruộng suốt 38 năm" (tr. 180). Ba mươi tm năm m gieo mạ, m trồng la, m chăm sc la, m gặt la, m gnh la, m đập la, m tải la... Cực qu l cực ! Bởi lẽ đ m suốt nhiều năm qua, m chỉ mơ ước c mỗi một ci my vừa gặt la vừa đập la. Khi m đồng đất đ biền biệt bng tru, bạn chịu kh đẩy xuồng trn ruộng cạn, tải từng b la như ba m ti dưới nắng h. M ti đ bao nhiu năm rồi đẩy vơi vơi trời biển" (tr. 181). Lm nng dn cả một đời cực khổ, m sống chết với ruộng, với la, với từng hột gạo. Bởi lẽ đ, khi nghe ng Y thm lạm chục ngoi tỉ, m buồn khủng hoảng lun. "Quen nết nng dn, b tnh, được số tiền đ b phải lm ruộng chắt mt suốt... đời. La rẻ rề, một giạ vi chục ngn, mấy ng "ở trển" lm mất tnh ra hng tỉ tỉ giạ chớ t đu" (tr. 183). Hng tỉ tỉ giạ bị thất thot ! Cn ai bụng dạ no m tiếp tục sống chết nhọc nhằn với la, tiếp tục ngho xơ ngho xc, tiếp tục lặn lội năm ny qua năm khc, ma ny qua ma khc, rốt cuộc ngho vẫn hon ngho.

Nhưng m chỉ nhọc nhằn c một mnh n m thi sao ? May mắn thay, m c một đứa con gi ch hiếu v đảm đang số một. Tư đ từng st cnh theo m lặn lội vất vả, khổ "cực trần ai khoai củ" trn khắp cc kinh rạch, để đi bn gạo bằng xuồng. C khi kinh rt nước, lạch cạn teo chỉ cn lại bn. V phương bơi xuồng. Bn nghĩ ra cch tải gạo tải cm bằng xe đạp. Tư rnh ci vụ ny lắm ! Đủ thứ sng kiến. Nhưng ai khen ti giỏi lng m ti cũng đau, v đ để ti dang dở con đường học tập" (tr. 157). Rồi c lần Tư theo m đi mua so đũa về để bn lại ngoi chợ qu, cũng vẫn bằng xuồng. Khi về xuồng phải vượt qua một con đập. Nhằm lc mưa nhiều, đập xả nước kinh trn ra như thc, lăm le nhận chm chiếc xuồng khẳm lừ. "M chống chỏi đằng li, ti nhảy o xuống nước nắm mũi xuồng ko đi, qua đập, ướt như con chuột, m khen ti giỏi m sao nước mắt m rươm rướm vậy ?" (tr. 156).

Thấy người ta đi theo chủ trương chuyển dịch sản xuất, nui tm kiếm được nhiều tiền qu, m cũng muốn chuyển sang nghề nui tm để thử thời vận. Nhưng rồi bo tm" thổi tới, tm chết như rạ. Tuy nhin, m cũng vẫn cứ thử nữa. Thử nữa, năm ny qua năm khc, v Chờ đợi những ma tm tới. Bởi lẽ "M v con tin rằng, d lần lữa rồi th những ma tm sẽ tới. N sẽ tới để thay đổi số phận, cuộc đời mỗi người (...) Những con người lam lũ cực nhọc cả đời xứng đng được trả cn (tr. 122). Với tấm lng ngay thẳng qu ma chất phc suốt cả đời mnh, m lun lun hằng tin như vậy. Vi trời cho niềm tin của m trở thnh sự thật trong tương lai. Một tương lai thiệt gần, trong lc m hy cn sống. Cn sống để cho con kịp về thăm.

Con cũng muốn về thăm lại m

Thăm dng sng Hậu nắng lưa thưa

C cy dừa lo thn gầy qu

Đứng khc theo ma con nước đưa... ( )

Cm ơn Tư đ n cần dẫn dắt ti về thăm lại miền đất Hậu giang, nơi Tư v ti đ sinh ra v lớn ln một thời. Cm ơn Tư đ đưa ti tới thăm Ngọn đn khng tắt ở ci Xm Rạch nhỏ nht, đưa ti đi đn Giao thừa trong một chợ tết cn ngổn ngang dưa hấu v hoa xun. Tư cũng đ dắt ti lội bộ r chưn băng qua Cnh đồng bất tận. V cuối cng Tư đ đưa ti tới gặp gỡ b con mnh trong Tạp văn để thấu hiểu v cng chia sẻ những nhọc nhằn, những kh khăn m người nng dn tay lấm chn bn phải đối đầu trong cuộc vật lộn với những bất trắc của thời tiết, của đời sống, của mưa gi từng ma, từng năm, từng thng, từng ngy. Đi với Tư trong chuyến viễn du, ti cũng đ c dịp khm ph lại những trận nắng Tiền giang rt da, v những cơn mưa Hậu giang rượi mt. Cm ơn Tư, cm ơn Tư.

Trong cuộc hnh trnh ny, ti chợt nhận ra giữa Tư v ti c nhiều điểm tương đồng. Tư thương loi vật, ti cũng thương loi vật. Tư c vịt xim Cộc, con vịt m, v chim bm bịp. Ti c vịt xim Đại bng, em vịt vng nhỏ v một con chim so rất khn, lần no cũng bay xuống đậu ln vai lc ti đi học về. Tư c b mẹ qu với bộ mặt sạm đen v bn chưn chai nứt. Ti c b gi qu hương với nụ cười tre trc v bn chưn nứt nẻ ph sa. V cn nhiều thứ nữa, như viết văn, như lo chuyện trn trời dưới đất, như nhớ sng nhớ nước, như thương cy mắm tiếc cy bần chẳng hạn. Khng thấy Tư ni về những mối tnh đầu hay tnh cuối của mnh. Cn ti, ti c Hoa, nụ hn đầu tin bn bờ sng Định tường. Ti c Tuyết, người tnh qun nước Tiền giang thuở học tr, người con gi đ cng ti chia sẻ những nhục cảm đầu đời, hoan m, chết giấc.

Nhờ Tư, thnh lnh ti sực nhớ lại hết những người đ n cần du dắt ti đi suốt một qung đường di đầy bất ngờ, cho ti nhận ra rằng, d ti c vấp ng nhiều lần, cuộc đời ny vẫn hết sức vồn v, hết sức nồng nn, hết sức đẹp đẽ. Những người thn, những c gi đ cng ti chia sẻ một thời những cuộc tnh hừng hực, những mi nh ấm cng, những bữa cơm đạm bạc, những vui buồn lớn nhỏ, giờ đy đ nằm su trong lng đất. Lần no về thăm qu hương, ti cũng cố lặn lội đường s trắc trở để được tới quỳ lạy v thắp một nn nhang tưởng niệm trn mộ ba m mnh. Nhưng mộ của Tuyết, ti khng biết n nằm nơi no, v cũng chưa hề một lần tới thăm. Trải qua biết bao cuộc binh đao ngụt trời lửa sắt, biết bao cuộc tang thương vật đổi sao dời, ngi mộ vi chn thn thể dấu yu một thời m ấp, giờ đy chắc chỉ cn l một nấm đất mn lạng hoang tn...

Mưa Hậu giang nắng Tiền giang

Nhiều đm khng ngủ dạ mơ mng

Nhớ người nhớ đất mi qu cũ

i nắng Tiền giang mưa Hậu giang !

Bagnolet, ngọai Paris

Thng mười 2007

Kiệt Tấn