Ḥn Cổ Tron

Sơn Nam

 

Ông Từ Thông ra ḥn Cổ Tron cất cḥi mà nương náu không biết từ bao nhiêu niên kỷ rồi. Tóc của ông lốm đốm bạc, khi th́ thả dài xuống khỏi lưng quần. Khi th́ bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quít. Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi dư mặc đối với ông ! Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng, bên mấy gốc săn đá cổ thụ, lá cành xơ xác v́ những cơn gió triền miên của biển khơi. Khi trời nực th́ có những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô t́nh khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên chập chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lơ thơ cúi nghiêng ḿnh chấm mí nước... Hôm nào vui cho bằng hôm mười bốn, hôm rằm ! Ông Tư Thông ra sau rẫy, đào lên củ khoai môn to lớn, đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm thạch. ông chậm răi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng rứt từ miến khoai, thảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mỗi con khoe một vẻ riêng. Tận dưới đáy biển, loại ṣ, loại ốc, loại nhúm đáng há miệng, le lưỡi ḅ chậm chạp trên nền đá tím nổi gân vàng, trên nền đá vàng nổi gân trắng. Hoàng hôn tràn tới chính là lúc cảnh vật dưới nước ngời lên, bóng mây phản chiếu lấp lánh như gấm. Đêm về, trăng mọc. Nơi thủy cung rộn rịp nào kém chốn trần gian ! Từng đợt rong ch́m lững lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá hướng. Và muôn v́ sao trên dải Ngân hà sa xuống đậu lấm tấm khắp nhánh san hô trắng bạc.

Ở ḥn Cổ Tron giữa vời vịnh Xiêm La này, ông Tư Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng hầu như quên rằng ḿnh có một đồng lại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia. Điều ấy, chúng ta không nên trách ai cả, chẳng qua là... hải giác thiên nhai. Không lẽ ông phải vượt bốn mươi cây số đường biển để tới công sở Lại Sơn, bên Ḥn Rái mà tŕnh diện. Chính quan chủ quận Châu thành Rạch Giá c̣n ngán đi kinh lư đến làng Lại Sơn ! Từ dinh quận của ông đến công sở làng ít nhứt cũng là năm chục cây số đường hải đạo mênh mông sóng cồn. Mấy chiếc "ca nốt" oai hùng trong sông rạch chỉ là cái vỏ trứng vịt giữa biển. Nhà nước thuộc địa nào chú ư đến việc cung cấp tàu đồng, tàu sắt để quan chủ quận đi cai trị dân ! Không lẽ ông quận lại cưỡi ghe bầu hằng trăm cây số. Vả lại ghe bầu nào phải như chim trời mà bay thẳng một đường ngay. Ghe chạy theo đường găy. Ngoài biển khơi, đường găy là đường gần nhất giữa hai điểm cách nhau ; cái khoảng gần trăm cây số trên kia kéo dài gấp ba, gấp bốn.

Năm ấy, tháng ấy, ngày ấy... ông Tư Thông bỗng nghe chút ǵ băn khoăn, rạo rực trong ḷng ông và ở ngoài đời. Từng đàn chim sắc đen ng̣m như bầy quạ bay lượn quanh ḥn Cổ Tron, rú lên, rít lên, lắm lúc như toan đáp xuống, đột nhiên đảo ngược, đi thẳng một mạch khuất trong mây khói.

- Bữa nay họ làm cái ǵ vậy cà ?

Ông Tư Thông hối hả trèo lên chót đá mà ngóng. Hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc không có ǵ lạ. Duy có hướng Đông : ḱa, sừng sững dưới ánh nắng mai năm ba ḥn đảo nhô lên, những ḥn đảo mới lạ. Ông trố mắt liên tưởng đến phép dời non lấp biển rất nhiệm mầu của tay Thợ Trời khéo léo. Không thể lầm lẫn được ! Hồi nào đến giờ, ông rất sành sỏi về vị trí mấy ḥn đảo nhỏ án ngữ chung quanh đây. Từ ḥn đảo mới nổi ấy, một đốm trắng người, một chiếc "ca nốt" rồi hai chiếc, ba chiếc đang rẽ sóng chạy phăng lại nơi ông đang ở. "Tự năm bảy năm nay, ḿnh chưa mất ḷng một con sâu, một con kiến, không lẽ bây giờ có kẻ báo oán ḿnh ? Oán nào đă gây ra mà báo ?". Nghĩ vậy, ông trở xuống chân ḥn sát mé biển, chờ đợi.

Chập sau, mấy chiếc "ca nốt" xáp gần bờ ; họ đưa tay ngoắc ông.

Người Việt Nam nọ lên tiếng :

- Ông già ! Lại đây quan lớn hỏi.

Ông Tư Thông nh́n năm sáu người mặc vơ phục trắng đứng gần thầy thông ngôn.

Mấy người mặc vơ phục nói ríu rít. Ông đoán đó là "tiếng Tây"...

- Ông già ! Đây là Bu Lô Đa Ma ?

Ông đáp :

- Dạ không biết. Nó là ḥn Cổ Tron. Chung quanh đây là mười ḥn nhỏ khác. Không có nơi nào kêu là ḥn Đa Ma...

- Vậy th́ nó là ḥn Nam Du. Trong bản đồ ghi rơ đường hoàng. Ông nói kỳ quá !

Ông Tư Thông lắc đầu :

- Dạ, lời thật khai ngay. Tôi không biết. Xung quanh đây là ḥn Mẫu, ḥn Dài, ḥn Cổ Sơn, ḥn Móng Tay.

Chập sau, thầy thông ngôn mới đồng ư :

- Đúng vậy, Bu Lô Đa Ma hoặc ḥn Nam Du là tên theo sách chữ nho, theo nhà binh. Ḥn Cổ Tron là tên tục của nó. Nè ông lăo ! Quan lớn ra lịnh như vầy...

- Bẩm thầy, quan lớn là người của nước nào, tôi chưa rành.

- Ông giỡn sao chớ ? Hay là ông ngủ mê ? Cỡ này, nhà nước thuộc địa Tây đánh với nước Xiêm.

- Bẩm thầy, đánh ở đâu ? Tôi chưa được am tường.

- Đánh tại nước Cao Miên. Đánh luôn tại Bu Lô Đa Ma tức là cái ḥn Cổ Tron này.

Ông Tư Thông cau mày :

- Mô Phật. Cầu xin Phật Trời...

Thầy thông ngôn đắc ư :

- Không sao đâu ! Hễ làm con dân th́ phải gánh vác nghĩa vụ. Quan lớn muốn biết hổm rày có tàu bè lạ nào chạy tới đây do thám không ?

- Dạ, không thấy.

- Ḥn này bao nhiêu dân đinh ?

- Bẩm thầy, có một ḿnh tôi thôi. C̣n mấy ḥn gần đây, tôi không rành. Chắc là năm bảy người, toàn dân "An Nam" ḿnh.

- Được, thôi bây giờ quan lớn muốn ông kiếm dùm trái cây, nước ngọt. Rồi quan lớn cho chút ít tiền... Thời buổi này ông nên xài phí. Việc sống chết bất thường lắm.

Có lẽ sợ ông Tư Thông trốn luôn trên chót ḥn nên thầy thông ngôn đi theo sát bên ông, sẵn sàng giúp ông quảy mớ chuối, mớ mít. Trước lạ sau quen, ông Tư Thông hỏi dọ sơ qua về t́nh h́nh trong bờ :

- Trận giặc này không biết dân "An Nam" ḿnh hao nhiều không thầy ?

- Hỏi làm chi vậy ? Ở đây yên thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hốc Môn, miệt Long Hưng... nhộn dữ lắm. Tây không muốn nói chuyện đó.

Một mối buồn len vào tâm năo ông Tư Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề, lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc nhở ông món nợ ǵ đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được th́ ít ra ông cũng cần biết những ǵ xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chi có tổ. Cá có hang. Đôi mắt già của ông Tư Thông ngẩn ngơ nh́n muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây tang bay thấp là đà... Ông hổ thẹn, tủi bấy phận ḿnh không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải.

Thầy thông ngôn nói ta khiến ông giựt ḿnh :

- Quan lớn đi về. Ông muốn xin điều ǵ, vật ǵ không ? Ổng tử tế lắm.

Ông Tư Thông chắp hai tay ra vể cung kính :

- Tôi muốn vô trong đất liền, miệt Rạch Giá hay Cà Mau ǵ cũng được để thăm bà con. Nhờ quan lớn cho giấy phép chớ thời buổi chiến chinh này... Tôi không có giấy thuế thân, hồi nào tới giờ.

Vị quan hải quân gật đầu. Thầy thông ngôn viết lia lịa rồi vị quan kư tên. Ông Tư Thông cầm miếng giấy thông hành hộ mạng nọ, vô cùng mừng rỡ :

- Chúc quan lớn đi b́nh yên. Mà... Quan lớn chạy "ca nô" về đâu ?

Thầy thông ngôn nói :

- Về tàu lớn. Mấy chiếc tàu binh... của tôi sơn có vằn có vện. Ông không thấy sao ? Họ sơn tàu lại cho giống cái ḥn giữa biển. Hồi sáng tụi tôi bỏ ống ḍm thấy rơ ràng ông đứng trên chót ḥn này. Nhờ vậy mà ông khỏi bị bắn. Ban sơ, quan lớn tưởng đâu ḥn này là chiếc tàu binh của kẻ nghịch. Ông hiểu chớ ?

***

Chưa vô tới bờ chợ Rạch Giá là ông Tư Thông cảm thấy cuộc đời đảo ngược, từ địa vị hoàn toàn tự do đến chỗ mất tự do. Ông trung thành với đất nước nhưng có sao đất nước đối xử với ông quá bạc bẽo, ghẻ lạnh ? Từ ḥn Cổ Tron, ông quá giang tàu buôn Hải Nam đi một mạch tới ḥn Tre, nhờ chiếc ghe câu kiều đưa vào chợ. Dè đâu tàu của sở "đoan" xét hỏi. Miếng giấy thông hành nọ bị hồ nghi là giả mạo v́ không có đóng mộc, v́ đương sự không có giấy "lăo" chứng tỏ rằng tên họ của ḿnh đúng như trong giấy phép. Tàu "đoan" chở ông về giao cho ông c̣ Tây, Giam giữ ông được hai ngày, ông c̣ phú nội vụ qua dinh quận. Ông quận vốn là người mộ đạo Phật nên cho phép ông Tư Thông được tự do đi dạo chợ. Ông Từ Thông bày tỏ lư do :

- Dầu muốn trở về ḥn Cổ Tron, không dễ ǵ kiếm được ghe xuống mà quá giang. Gió thổi Nồm rồi. Phải chờ mùa Bấc...

Dạo chợ mấy buổi, ông Tư Thông phát chán. Cầm mấy cắc bạc (của ông chủ quận cho) ông không biết nên mua sắm, ăn uống những ǵ. Rốt cuộc, ông mua tiền xu khoai môn mà ngồi ăn ngon lành nơi góc chợ. C̣n dư, ông vào tiệm hàng xén mua nhang đèn cầy để về cúng bà Chúa Ḥn mặc dầu ngoài ḥn không có chùa miễu ǵ cả. Ông cũng thích chí sực nhớ lại mua vài cây kim, nửa cân đường cát trắng.

Nhiều lần quan chủ quận viết thư qua bót ông c̣ hỏi thăm nhưng không được sự giải quyết nào dứt khoát. Chẳng lẽ giam giữ ông Tư Thông măi măi ? Nh́n vào bản đồ vịnh Xiêm La, ông quận nảy sanh ư kiến :

- Ḥn Cổ Tron tuy thuộc quận Châu Thành nhưng nằm gần phía làng Đông Hưng, quận An Biên. Ngày năm tây tháng tới, ta đón thầy xă trưởng Đông Hưng mà gởi ông đạo này.

Rừng của làng Đông Hưng âm u quá, khó mà nh́n ra xa quá vài công đất để t́m lại chân trời ; chạng vạng là un khói lên, không như hồi ở ngoài ḥn Cổ Tron, hồi ông ngủ trần không cần mùng mền. Thầy xă trưởng giao trách nhiệm ǵn giữ ông cho thầy hương quản. Thầy hương quản lại đổ gánh nặng ấy cho người em vợ là hương tuần Hay.

Người giam giữ và người bị giam giữ lần hồi cảm thông nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế. Ông Tư Thông đi cắm câu, kiếm "mồi" về nhậu.

- Ở đây vui quá phải không ?

Ông Tư Thông gất gù :

- Không được vui lắm. Coi bộ bà con ḿnh nghèo hơn ở ngoài ḥn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có. Ḿnh mẩy bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời... Chắc là tại giặc Xiêm.

Hương tuần Hay trả lời :

- Giặc đâu không thấy. Người ta đánh mà ḿnh chịu cực mới đau thương cho chớ !

- Buồn quá, chú hương tuần à.

- Hơi đâu mà buồn. Xứ này chịu cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen, yên tịnh.

Ông Tư Thông thích chí :

- Th́ ở ngoài ḥn Cổ Tron của tôi, tứ bề sóng gió nhưng mà cũng yên tịnh. Cớ sao ? V́ chung quanh có hàng chục ḥn khác án ngữ. Tôi là người chạy giặc, vô trong đất liền này thăm bà con... Nhưng mà cũng yên tịnh. Nhờ bà con thương t́nh.

Ngày tháng trôi qua đều đều. Hôm ấy không nhớ rơ hôm nào, thầy hương quản đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn biết được tin trận giặc Xiêm đă chấm dứt. Tây và Xiêm dường như thủ huề. Thầy tự ư ra lịnh trả tự do cho ông Tư Thông.

Ông Tư Thông ngạc nhiên :

- Tôi bị giam hồi nào ?

- Ông chủ quận biểu tôi giữ ông lại để làm tù binh, chờ măn giặc mới thả ông về Cổ Tron.

- Về th́ về, không sao đâu - ông lẩm bẩm.

Thầy hương quản hỏi :

- Hồi bị giam, ông có đồ đạc ǵ bị tịch thâu không ? Tôi kêu nài giùm.

- Vài ốp nhang, đèn cầy, kim may quần áo, đường cát trắng... Nhưng mà thôi. Ở ngoải, dầu không có mấy thứ đó... Nhưng cũng như có.

Gặp dịp thuận tiện, thầy hương quản t́m ghe cho ông quá giang ra ḥn Sơn Rái.

Ông ra đi, hơi buồn.

Dư luận trong xóm nổi lên bàn tán. Người cho rằng ông muốn truyền bá một thứ tôn giáo mới, thí dụ như "Đạo Tịnh" bằng cớ là ông ưa nói hai tiếng yên tịnh. Kẻ khác hồ nghi rằng ông ở Côn Nôn thả bè vượt ngục trốn về.

- Nè cha nội sành sơi lắm ! Cây đèn "măng sông" của Chệt Kỵ hư "béc" đốt không cháy, vậy mà cha nội sửa lại được trong nhấp nháy...

Lại c̣n nhiều giả thuyết khác ác độc hơn, cho rằng ông thường lân la mấy nhà có đàn bà góa, gái tơ, vân vân...

Nhưng thời gian là vị trạng sư hùng biện nhứt thanh minh cho ông Tư Thông. Dư luận bất chánh bị đánh tan, lăng quên. Kỷ niệm lần lần trở nên trong sáng, tươi đẹp. Chiều chiều, khi ra bờ biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Tư Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ ngũ sắc tấp vào băi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong Thần t́nh cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu v́ thiếu hồi thứ nhứt và không có hồi sau phân giải.