Đóng Gông Ông Thầy Quít

 

Sơn Nam

 

Ở đâu động dao, động thớt là có ông thầy Quít tới. rượu uống ngà ngà, ông vỗ ngực, xăn tay áo mà nói trong buổi tiệc :

- Bà con ở đây không ai biết phát cỏ cho ra hồn, tôi chắc như vậy.

Có người bực tức, hỏi :

- Ra hồn nghĩa là sao ? Anh em tụi tôi đây cứ phát đều đều mỗi ngày một công. Sao Mai mọc, đâm mây ngang là ra ruộng. Mặt trời lên hai sào, tụi tôi vô nhà xong việc nằm nghỉ.

Thầy Quít nhướng mắt :

- Tôi phát ba công trong khoảng thời gian đó. Phát lẹ bằng ba lần. Đó là buổi tôi làm biếng. Nếu siêng th́ mỗi ngày tôi phát sáu công liên tiếp, không cần ăn cơm trưa.

- Thiệt hay chơi đó ? - Có người hỏi.

Ông đáp :

- Nói dóc làm ǵ ? Tôi c̣n ở xóm này chơi vài tháng nữa mà. Anh em hồ nghi, tội nghiệp tôi. Không lẽ già rồi mà tôi c̣n mang tật nói dóc, để tiếng xấu cho đời sau.

- Chúng tôi nào dám. Chỉ e đó là chuyện hồi ông c̣n trẻ. Bây giờ sức ông yếu nhiều rồi.

Thầy Quít dịu giọng :

- Hồi trai trẻ, trái lại tôi phát cỏ chậm hơn lúc về già như bây giờ. Hồi đó là tay ngang, bây giờ tôi là kẻ đắc đạo. Phát cỏ là một thứ đạo ích lợi cho sanh linh, ṇi giống. Đạo là phép mầu nhiệm. Chẳng hay bà con ḿnh muốn học không ?

Ai nấy trố mắt nh́n nhau. Hồi nào tới giờ nghe nói đạo Phật, đạo Lăo, Khổng, Mạnh... chớ nào ai nghe "Đạo phát cỏ". Bấy lâu, xóm này và các xóm kế cận đều phát cỏ theo cách của ông bà truyền lại. Nghĩa là chém cho cây phảng chạy dài dưới nước ; phảng chạy tới đâu, cỏ đứt tới đó. Cùng lúc ấy, tay trái quờ cù nèo, gạt mớ cỏ bị hạ qua một bên cho trống trải mặt nước. Rồi th́ bước tới, dở ngọn phảng lên, chém xuống pháp phảng thứ hai... Cứ như vậy đến lúc không c̣n cụm cỏ nào trong công đất... Nghĩ cũng nặng nhọc, phí sức ; đàn bà ít ai phát cỏ nổi. Mặc dầu phát rồi, về trước giờ ngọ nhưng ai nấy mệt nhoài, ḿnh mẩy rêm nhức, có người uống rượu thuốc để lấy sức ngày mai... Hôm nay nghe thầy Quít bàn đến Đạo phát cỏ, xem phát cỏ như một phép mầu nhiệm, ai lại không mừng ? Họ mừng nhưng c̣n nghi ngờ, e năy giờ thầy Quít nói quá lời, v́ quá chén.

Nhưng càng uống rượu, thầy Quít càng tỉnh táo. Thầy nói :

- Ai muốn thọ giáo ? Tôi sẵn sàng làm công việc ích lợi đó giúp bà con. Tôi nào thọ tiền bạc nhiều. Chỉ cần một con gà gị để cúng tổ. Vậy thôi !

Một con gà đáng giá là bao, nhà nào mà không nuôi sẵn ! Ai nấy mừng rỡ, thấy trước mặt một viễn ảnh vô cùng tốt đẹp : Bao nhiêu đất hoang của rạch Thuồng Luồng sẽ biến thành biển lúa vàng trong ngày rất gần. Mỗi mùa, thay v́ dành ba chục ngày mà phát cỏ, giờ đây nhờ phép màu của thầy Quít, họ chỉ cần ra sức bốn năm ngày là xong chuyện. Mấy mươi ngày c̣n lại, họ tha hồ đờn ca vọng cổ, hoặc đá cá lia thia. Ai siêng th́ cứ phát thêm, phát mau lẹ hàng trăm công. Chị em phụ nữ tha hồ mà cấy, mà ḥ hát huê t́nh, đối đáp. Chốn thần tiên âu cũng như chốn này !

Nh́n vẻ mặt vui tươi của mọi người, thầy Quít cũng vui lây. Vốn từng ngao du, giao thiệp nhiều nơi, thầy tỏ ra khá rành về tâm lư để thâu phục nhân tâm.

- Ngày mai này, tôi đích thân ra ruộng phát cỏ cho anh em coi thử. Anh em cứ chọn người nào phát giỏi nhứt ở đây để thi tài với tôi. Tôi chấp họ phát trước tôi nửa công ; tôi phát sau nhưng nhất định rồi trước.

* * *

Thầy Quít làm đúng điều đă nói. Xóm riềng không ngớt tán tụng :

- Giỏi quá. Hôm qua, ổng phát một công đất không đầy một giờ đồng hồ.

- Rơ ràng thầy Quít có phép mầu "Chém hai dao tầm rưỡi có dư" như lời tục thường nói. Thầy hạ ngọn phảng xuống một cái, tức th́ một vùng đất trên hai thước rưỡi bề dài phải sạch sành sanh, cỏ ngă liệt.

Xóm Thuồng Luồng vốn hâm mộ nhân tài. Họ mời thầy Quít về nhà ngủ trên ván gơ, trải chiếu bông đàng hoàng. Nội một buổi chiều, hơn một chục người đến kính cẩn xin thọ giáo.

Thầy nói :

- Tôi có tội lớn với tổ, tôi phụ ḷng anh em nhiều quá. Số là xưa kia, thầy tôi lúc lâm chung trối lại : con đừng lấy việc truyền nghề mà làm sanh kế. Như vậy lần hồi con trở thành lười biếng khác chi lũ người xôi thịt. Con thương thầy th́ ra sức phát cỏ mướn như mọi người. Ngồi không... sanh bất thiện.

Người nghe bèn thở dài :

- Như vậy làm sao chúng tôi học được ? Anh em muốn ông nán lại chơi vài tháng. Khoảng thời gian đó, tiền bạc đâu để ông hút thuốc ăn trầu ? Làm thế nào giúp ông được bây giờ ?

Sau giây phút trầm ngâm, thầy Quít đáp :

- Nhờ anh em cho tôi lănh trước chút ít tiền mai mốt tôi phát cỏ trừ lại. Như vậy tôi ở đây măn mùa, sớm chiều ra ruộng làm lụng với anh em cho vui ; luôn tiện giúp anh em vài bí mật trong... Đạo. C̣n việc truyền phép, tôi hứa chọn một đệ tử trong đám thanh niên trai tráng trong xóm này. Cần nhất là cậu trai đó phải thành tâm, tŕ chí để chịu đựng một cuộc thử thách lâu dài. Thánh nhơn gọi như vậy là "tử công phu", thứ công phu khó nhọc khiến cho con người bạc tóc, nhăn trán...

Bà con cho thầy Quít lănh trước tiền phát cỏ. Người này nhờ thầy phát dùm bốn công, người kia ba công, người nọ năm công... Nhờ vậy, thầy thủ được món tiền ăn xài dư dả.

Thằng Liệu lấy làm hân hạnh được thầy chọn làm đệ tử. Nó thức suốt đêm, mừng không ngủ được. Hôm sau thầy Quít gọi nó ra ngoài trại ruộng giữa đồng, ở chung với thầy. Đoán trước nỗi ngạc nhiên của nó, thầy nói :

- Ḿnh phải xa lánh mới được. Ở chốn đông người. Đạo bị hoen ố v́ lắm kẻ ṭ ṃ.

Cứ buổi sáng, thằng Liệu nấy nước pha trà. Trưa lại, nấu cơm mua rượu về cho thầy. Nó làm tất cả công việc đó với tầm ḷng thành kính, c̣n hơn đối với cha ruột. Suốt ngày ngoài việc ăn uống, thầy Quít nằm lim dim đôi mắt, nửa thức, nửa ngủ... Ban đêm, thầy bảo nó đốt nhang cắm bốn phía trại. Thỉnh thoảng, thầy trở vào xóm. Ấy là lúc ai cũng mừng rỡ xúm nhau đặt thêm tiền để thầy phát cỏ cho. Về trại ruộng, thầy mang theo nào gà, nào rượu và một túi tiền khá đầy.

Trong xóm, vài người ṭ ṃ. Ban đêm, họ lội b́ bơm ra trại nhưng không dám lại gần, e thầy biết mà có tội. Họ thấy... bốn ngọn đèn cây xanh lè. Trong bóng tối, ghê rợn làm sao ! Thấp thoáng, bóng dáng thầy Quít và thằng Liệu đi qua đi lại, co chân co tay, quơ tới quơ lui, nhảy nhót bên tả bên hữu. Dường như cả hai đều ở trần. Gió thổi từng cơn hù hù qua đồng cỏ. Lưng thằng Liệu ướt loang loáng, phải chăng v́ quá tập dượt mà tháo mồ hôi ? Lâu lâu thầy Quít ngồi xuống. Người đi xem ngoài này lắm khi thấy lạnh xương sống v́ mấy ngọn đèn xanh lè bên trong kia vụt tắt hết... Rồi cháy lên hai ngọn, ba ngọn, bốn ngọn... Rồi tắt bớt một ngọn. Đột nhiên, cánh liếp che kín lại. Bên trong nổi lên tiếng sắt đá chạm nhau rổn rảng, khi thưa khi nhặt, rít lên trầm xuống. Như tiếng thợ rèn đập sắt, như tiếng mài dao của anh đồ tể sửa soạn thọc huyết heo.

Đèn trong trại ruộng lần lần tắt hết. Ngoài này, họ lủi thủi bước về, chân không dám lội mạnh, e thầy Quít nghe được. Họ rủ nhau đi ŕnh như vậy một ngày, hai ngày, ba ngày... riết rồi sanh chán, nhứt là khi mưa dầm, đường về trơn như thoa mỡ, gió lạnh buốt xương.

Cỡ này, rằm tháng sáu rồi ! Lệ thường, mọi năm khi thầy Quít chưa đến truyền phép... phát cỏ mầu nhiệm, họ đă dọn cỏ xong xuôi, có đâu như năm nay khắp đó đây cỏ dại c̣n tha hồ vươn lên đầy bịt khỏi đầu người, phải dùng tay mà rẽ để t́m lối đi vất vả.

- Chừng nào mới dọn đất để cấy ?

Mổi người đều tự hỏi như thế và mỗi người đều tự trả lời :

- Phải nhờ thầy Quít. Thầy ra tay một vài buổi là xong. Ḿnh đă đặt cọc tiền cho thầy rồi mà.

Nhưng họ cảm thầy không được yên tâm ! Thầy Quít đâu phải lănh tiền trước của một đôi người. Khắp xóm Thuồng Luồng, lai rai đâu cũng có thân chủ của thầy. Từ Bây giờ đến cuối tháng, hơn mười ngày nữa, liệu thầy có phát xong... trên trăm công đất ! Họ ra tận trại ruộng, xin yết kiến thầy để tỏ bày nỗi thắc mắc đó. Thầy vươn vai, đáp một cách tỉnh táo :

- Ối ! Bà con hơi đâu mà lo xa ! Bà con nhắc nhở tôi như vậy thật là chí lư. Ngặt hổm rày tôi cầu tổ chưa được. Một khi tổ về nhập vào xác tôi, bà con phải biết ; tôi phát cỏ như người lên đồng, lên bóng, phát tối ngày không mỏi. Hai ba đêm rồi, tôi "đi thiếp" xin tổ về gấp. Tổ chưa về, chỉ có vậy thôi.

* * *

Chủ tọa tối cao là thầy phó hương quản. Nhà ông hương ấp bỗng nhiên trở thành nơi nhóm họp, xử một vụ án quan trọng.

 Tiên cáo là hầu hết dân chúng rạch Thuồng Luồng.

Chánh phạm là thầy Quít. Nhưng khiếm diện, v́ đă bôn tẩu trong đêm rồi.

Thằng Liệu - đồ đệ của thầy - bị khép vào tội đồng lơa. Nó quỳ xuống lạy, khóc sướt mướt, kêu oan. Nhờ sự can thiệp của mấy ông kỳ lăo nên nó khỏi bị tát tai, đấm đá. Chập sau, thầy phó hương quản mở trói cho nó. Nó khai đại khái như sau :

- Ổng cuốn gói hồi nào, tôi không hay. Chừng sáng ra thức dậy mới biết.

Thầy phó hương quản cười :

- Phải hay trước th́ mày đă cuốn gói theo ổng luôn rồi. Ổng có chia tiền cho mày xài không 

- Dạ không. Mấy lần mua gà vịt về, ổng với tui ăn chung, nhưng mà gan, mề, đùi, ổng hưởng hết... C̣n bụng gà, xương cẳng... về phần tui.

- Ổng dạy mày phép ǵ ?

- Dạ ban đầu th́ cắt cổ gà để cúng tổ. Ổng nói : "Coi máu gà phun ra ḱa ! Mai chiều, nếu mày đem sự bí mật trong nghề mà nói lại với người khác th́ ngọn phảng ăn vô chưn mày, máu phun ra như vậy đó". Năm ba bữa sau, ổng lấy thước tây đo dưới đất, vuông vức mỗi cạnh là một thước. Bốn góc h́nh vuông đó, ổng thắp bốn ngọn đèn cầy. Ban đêm, đốt đèn lên, ổng đưa cho tôi một cây sậy dài chừng chín tấc mà nói : mày cầm cây sậy mà quơ mạnh, như cầm phảng pháp cỏ. Phải làm sao khi quơ một cái th́ hơi gió khiến bốn cây đèn cầy tắt một lượt.

Thằng Liệu nói tiếp :

- Thẩy nói mỗi công ruộng là một ngàn thước vuông, ḿnh tập phát mỗi lát dao chém trọn một thước vuông. Vài bữa sau, thẩy khen tôi rồi dạy mấy câu thiệu sau đây : Tấn bộ chữ đinh. Tay vươn cánh ó, Chưn trái đá gió. Linh kiếm hạ liền... C̣n dài lắm, phần sau chưa dạy là thẩy trốn.

Thầy phó hương quản vỗ bàn :

- Cây phảng mà kêu bằng linh kiếm. Thằnh này gan thiệt. Nó muốn làm giặc sao chớ ? Ngoài chuyện phát cỏ nó c̣n nói chuyện ǵ khác không ? Mày khai gian tao đóng gông bây giờ. Đủ bằng chứng rồi ! Bắt được ổng tao cũng đóng gông luôn.

Thằng Liệu ấp úng :

- Cách đây vài ngày, thẩy khoe với tôi rằng "Sư tổ" hồi xưa phát cỏ giỏi lắm, truyền tới thẩy đây là bốn đời. Đạo lần lần bị ố. Thẩy phát chơi một buổi chớ không bao giờ phát ngày này qua ngày kia, nhiều và lẹ như vậy được. Sự tích hồi xưa, người Mông Cổ xâm chiếm nước Tàu...

- Lập nhà Nguyên, Phải ! Thầy Quít nói ǵ mà người Mông Cổ ? Lạ quá !

- Thẩy nói người Mông Cổ hồi c̣n nghèo, lang thang trên yên ngựa th́ siêng năng, mạnh khỏe. Đến chừng chiếm được cung điện nước Tàu, họ ăn no ngồi một chỗ, mặc áo gấm. Việc cầm cung lên ngựa, họ xao lăng nên trở thành bạc nhược, gân cốt không c̣n dẻo dai. Tới sau, họ bị Châu Hồng Vơ đánh bại. Phép phát cỏ như vậy đó. Khi xưa người dân phá rừng mở nước, họ làm lụng suốt ngày quên ăn cơm, cử nổi cây phảng nặng một yến. Bây giờ chỉ phát một buổi, cây phảng sụt xuống c̣n có năm cân mà lắm người than mệt ? ! Người dạy đạo phát cỏ th́ lo tiền bạc rượu thịt. Nghề làm ruộng lần lần bị cạnh tranh ; nhiều người nông phu tay cầm phảng nhưng trong bụng nghĩ tới việc ra chốn thiền thị, t́m phương kế khác làm ăn có lợi hơn.

Thằng Liệu nh́n mỗi người, thở dài rồi nói tiếp :

- Tối hôm qua thầy Quít nhắc chuyện Mông Cổ đó thêm một lần nữa rồi thẩy khóc thút thít với tôi : "Liệu à, mày đừng bắt chước tao ! Tao là đứa làm biếng sau chót hết, mày phải ráng sức giữ lấy nghề nông".

Phiên nhóm trở nên yên lặng. Phải chăng là cơn oán hận đối với thầy Quít đă lần lần dịu xuống ? Ai nấy nh́n nhau, hút thuốc rồi cười lạt đành tha thứ rút lui về nhà.

Nhưng ngày qua tháng lại ! Những năm sau - năm 1930, lúa sụt giá c̣n một cắc một giạ - người nông phu phải tŕ chí lắm mới cầm nổi cây phảng mà ra ruộng phát cỏ. Họ đâm ra thương nhớ bao nhiêu lời nói và tội lỗi của thầy Quít, hồi năm trước. Thương nhớ thương nhớ một cách lạ lùng !