Vài vấn đề về chữ Hán tại đền thờ và lăng mộ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức ở Khánh Hậu

Lê Công Lý[*]

TÓM TẮT

Đền thờ và lăng mộ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức ở Khánh Hậu tuy là di tích cấp quốc gia, nhưng do điều kiện lịch sử phức tạp nên di sản chữ Hán tại đây còn một số vấn đề cần thảo luận, như việc ông là tướng ‘Sơn Đông’ hay ‘Đông Sơn’, ‘Tam tổng trấn’ hay ‘Song tổng trấn’ cũng như các chữ Hán thuyết minh trên bức hình thờ của ông.

Thông qua phân tích các tư liệu thực tế, bài viết góp phần trả lời các câu hỏi đó, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu việc khế hợp tinh thần yêu nước chống Pháp với hình tượng lịch sử Nguyễn Huỳnh Đức đầu thế kỉ XX.

Từ khoá: Nguyễn Huỳnh Đức, chữ Hán, chống Pháp, Khánh Hậu.

Abstract:

SOME ISSUES ON THE SINO - SCRIPT AT THE TEMPLE AND TOMB OF GRAND GENERAL NGUYỄN HUỲNH ĐỨC IN KHÁNH HẬU

The temple and tomb of Grand General Nguyễn Huỳnh Đức in Khánh Hậu has been recognized as a national heritage site. However, due to complex historical circumstances, there are some Sino script heritages need to have further discussion there, such as whether he was a General of ‘Sơn Đông’ or ‘Đông Sơn’, whether his title was ‘Tam tổng trấn’ (Triple Governor-General) or ‘Song tổng trấn’ (Dual Governor-General), and the explanation Sino scripts for his worship portrait.

Through analysis of the available historical materials, this article seeks to clarify these questions and, at the same time, suggests a new direction for studying how the spirit of French resistance combined with the historical image of Nguyễn Huỳnh Đức in the early twentieth century.

Keywords: Nguyen Huynh Duc, Sino-script, French resistance, Khanh Hau.

NỘI DUNG

Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức là một trong số rất ít các vị trung hưng công thần đã lập đại công với triều Nguyễn nên được đặc biệt sủng ái, thể hiện rõ ở các di sản còn lại cho đến hôm nay. Tuy nhiên, do trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc và nhiều đợt trùng tu suốt hơn 200 năm qua nên nhiều hạng mục di sản của ông không khỏi xuất hiện một số vấn đề cần thảo luận để đi đến thống nhất, trong đó có di sản chữ Hán.

1. Sơn Đông hay Đông Sơn?

Hiện nay, tại P. Khánh Hậu (TP.Tân An, tỉnh Long An[1]), từ Quốc lộ 1A có hai cổng vào lăng mộ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức (được khánh thành năm 1972), dân gian gọi là Cổng trên (nằm về phía Tân An) và Cổng dưới (nằm về phía Mĩ Tho). Mặt tiền Cổng dưới có có cặp đối bằng chữ quốc ngữ:

Sơn Đông oai tiết liệt;
Nam Hải lẫm oai thanh.


Hình 1: Cổng dưới (1972), lăng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Ảnh: Lê Công Lý.

Hai từ Sơn ĐôngNam Hải vốn là hai địa danh thuộc Trung Quốc, nên đọc cặp đối này có thể người ta sẽ hiểu lầm về xuất thân và lập trường chính trị của ngài Tiền quân, trong khi thực tế thì ngài trước sau vẫn hết lòng tận trung với nhà Nguyễn.

Nếu phân tích thuần túy về ngôn ngữ cũng dễ nhận ra lỗi ngôn ngữ tại đây, bởi lẽ đã là cặp đối thì hai vế phải đối nhau từng chữ, đàng này Sơn không thể đối với Nam, Đông không thể đối với Hải được. Nhận thức đó dễ dẫn đến suy đoán do cặp đối này bị xếp sai trật tự hai chữ Đông Sơn thành Sơn Đông, nhưng thật ra cách dùng chữ Sơn Đông ở đây lại có căn cứ, vì đó chính là hai chữ lấy từ Thọ phần minh trước mộ Tiền quân:

仰惟尊公
傑出山東
轟轟義列
凛凛威鋒

Ngưỡng duy tôn công,
Kiệt xuất Sơn Đông;
Oanh oanh nghĩa liệt,
Lẫm lẫm oai phong...

Bài minh này được biết có 2 bản (bản gốc năm 1818[2] và bản tu bổ năm 1927) ngắn dài khác nhau nhưng đều có câu Kiệt xuất Sơn Đông và đều đề 戊寅年仲秋月吉日 Mậu Dần niên trọng thu nguyệt cát nhật (ngày lành, tháng 8 năm Mậu Dần[3]). Có thể hiểu vì bài minh này sử dụng cước vận ông/ ung nên tác giả buộc phải ép Đông Sơn thành ra Sơn Đông cho hiệp vần.

Bằng chứng hiển nhiên là cũng ngay trước lăng mộ ngài, có trụ biểu đề:

東山轟義列
南海凛威聲

Đông Sơn oanh nghĩa liệt;
Nam Hải lẫm oai thanh.

  
Hình 2: Cặp đối “Đông Sơn oanh nghĩa liệt; Nam Hải lẫm oai thanh” nơi trụ biểu trước lăng mộ ngài. Ảnh: Lê Công Lý.

Thật vậy, lần về lịch sử, dễ thấy cách định danh Đông Sơn này là hoàn toàn có cơ sở. Bởi vì, ngài Tiền quân quê ở giồng Cai Én (nay là Khánh Hậu), vốn là địa đầu của vùng đất Ba Giồng do quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn hùng cứ. Biệt danh Đông Sơn này chính là để đối trọng với danh hiệu Tây Sơn của anh em Nguyễn Huệ, đối thủ không đội trời chung của chúa Nguyễn Ánh và quân Đông Sơn.

Ban đầu, ngài Tiền quân đầu quân cho quân Đông Sơn, sau khi Đỗ Thanh Nhơn bị giết ông mới sang đầu quân cho chúa Nguyễn Ánh. Điều này được ghi rõ trong sách Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn: “Khi trước, Đức theo làm thuộc hạ Đỗ Thanh Nhơn. Thanh Nhơn vì tội bị giết, Đức riêng được tuyển dụng”[4].

Như vậy, hai chữ Đông Sơn này chẳng những cho biết xuất thân của ngài (từ đội quân Đông Sơn ở đất Ba Giồng) mà còn cho biết rõ lập trường chống Tây Sơn của ngài.

Chính vì vậy mà sau khi vua Minh Mạng lên ngôi đã truy niệm công trạng và truy phong cho ngài danh hiệu Tá vận công thần, Đặc tấn Tráng võ tướng quân… Thái phó… Kiến Xương quận công. Trong tờ Chế ngày 17/11 năm Minh Mạng thứ 12 (1831) cũng ghi rõ xuất thân Đông Sơn và công nghiệp của ngài như sau:

東山劍馬稱雄特邁扶崑之志
望閣星霜歷閱遥傾向日之忱

Đông Sơn kiếm mã xưng hùng, đặc mại phò Côn chi chí;
Vọng Các tinh sương lịch duyệt, dao khuynh hướng nhật chi thầm.

(Đông Sơn ngựa kiếm xưng hùng, viễn thú phò Côn nhất dạ;
Vọng Các sương sao dày dạn, xa xôi hướng nhật một lòng).


Hình 3: Chế ngày 17/11 năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Ảnh: Nguyễn Huỳnh Triều.

Theo đó, trên bức tranh thờ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức hiện ở tại đền thờ cũng có nội dung thuyết minh: 東山虎將黃公德定祥建興人姓黃奉賜國姓故稱阮黃氏 Đông Sơn hổ tướng Huỳnh công Đức, Định Tường - Kiến Hưng nhơn, tánh Huỳnh, phụng tứ quốc tánh, cố xưng Nguyễn Huỳnh thị (Hổ tướng Đông Sơn là Huỳnh công Đức, người huyện Kiến Hưng, Định Tường, vốn họ Huỳnh, được ban quốc tánh, nên gọi là họ Nguyễn Huỳnh).

Để ghi nhận công lao và căn cước của ngài, trong đợt trùng tu năm 1927, một nhóm hương chức làng Tân Hội Đông bên cạnh cùng với Tú tài người quốc Quảng Nam là Lưu Đình Liệu đã cúng cặp liễn cho Nguyễn Huỳnh tông miếu với nội dung:

東山劍馬古猶傳新朝緬念
南國雲龍今再睹舊館重營

Đông Sơn kiếm mã cổ do tồn, tân triều miễn niệm;
Nam quốc vân long kim tái đổ, cựu quán trùng dinh.

(Kiếm ngựa Đông Sơn xưa vẫn còn đây, tân triều nhớ mãi;

Rồng mây nước Nam nay lại được thấy, dinh cũ trùng tu[5]).

Tất cả những điều nói trên cho thấy rõ ràng căn cước Đông Sơn của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức, nên không thể có địa danh Sơn Đông nào ở đây.

2. Tam Tổng trấn hay song Tổng trấn?

Hiện nay, Cổng trên nằm ở đầu đường Nguyễn Huỳnh Đức có khắc cặp đối bằng chữ quốc ngữ (1972):

Tiền hữu lưỡng Tướng quân;
Bắc Nam song Tổng trấn.

Đồng thời, tại trụ biểu trước lăng mộ ngài cũng có khắc cặp đối chữ Hán có nội dung đó:

前右兩將軍
北南縂鎮


Hình 4: Cặp đối chữ Hán “Tiền hữu lưỡng Tướng quân; Bắc Nam song Tổng trấn” trên trụ biểu trước lăng mộ ngài. Ảnh: Lê Công Lý.

Tuy nhiên, tại cổng chính lại khắc cặp đối chữ Hán:

前右二將軍六師帥令
北南三縂鎮萬里兵權

Tiền hữu nhị Tướng quân, lục sư soái lệnh;
Bắc Nam tam Tổng trấn, vạn lí binh quyền.


Hình 5: Cặp đối ‘tam Tổng trấn’ tại cổng chính trước lăng mộ ngài. Ảnh: Lê Công Lý.

Vậy thực ra Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức từng giữ 2 hay 3 chức Tổng trấn?

Theo Đại Nam liệt truyện, Nguyễn Huỳnh Đức từng giữ chức Khâm sai Chưởng Hữu quân (1790)rồi Khâm sai Chưởng Tiền quân (1802) trong quân đội nhà Nguyễn, đồng thời từng giữa chức Tổng trấn Bắc thành (1810 – 1815) quản địa bàn từ Ninh Bình ra Bắc và Tổng trấn Gia Định thành (1816 – 1819)[6] quản địa bàn từ Bà Rịa vào Nam.

Vậy chức Tổng trấn thứ 3 mà ông từng giữ là Tổng trấn gì? Những người chủ trương thuyết ‘Tam tổng trấn’ [sic] cho rằng, đó chính là vào năm Gia Long thứ nhất (1802) khi vừa hạ được thành Quy Nhơn – đầu não của quân Tây Sơn – “vua cho Đức tước quận công, lĩnh đóng trấn Quy Nhơn”[7] (tức thành Bình Định).

Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy, Đại Nam liệt truyện ghi nhận Quy Nhơn lúc đó chỉ gọi là dinh/ trấn chứ không phải Trấn thành. Dinh/ trấn là đơn vị hành chính tương đương tỉnh, còn Trấn thành là đơn vị trung gian giữa triều đình và các dinh/ trấn xa ở hai miền Nam Bắc đầu thế kỉ XIX. Đứng đầu dinh/ trấnTrấn thủ/ Lưu thủ, còn đứng đầu Trấn thànhTổng trấn.

Giai đoạn đầu thế kỉ XIX, dinh Bình Định (tức Quy Nhơn cũ) rồi trấn Bình Định (từ 1808) thuộc triều đình Huế trực tiếp quản lí, nên Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức trấn nhậm nơi đây gọi là chức Lưu thủ chứ không phải Tổng trấn.

Do đó, nói Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức từng giữ 3 chức Tổng trấn vừa sai lịch sử, vừa gây hiểu lầm cho hậu thế về việc đương thời cả nước có đến 3 Trấn thành [sic].

Vậy thuyết Tam Tổng trấn nói trên thực ra bắt nguồn từ đâu? Nghiên cứu kĩ tư liệu về Tiền quân, chúng tôi nhận thấy trong bài minh phía trước mộ ngài, ở cả nguyên bản 1818 lẫn phiên bản 1927 đều có câu:

Đại định chi hậu[8],
Tam lãnh Tổng trấn.

Điều này cho biết ngài từng 3 lần ‘Lãnh chức Tổng trấn’, khớp với ghi chép trong Đại Nam liệt truyện: “Năm thứ 11 (1812), Đức được triệu về kinh, kính gặp lễ ninh lăng Hiếu Khang hoàng hậu, được sung làm Tổng hộ sứ rồi bổ chức Khâm sai Chưởng Tiền quân, lãnh [chức Tổng trấn Bắc] thành như cũ”[9].

Như vậy, trong 6 năm giữ chức Tổng trấn Bắc thành, chức vụ này của ngài thực ra có gián đoạn, nên thực ra Tam Tổng trấnở đây có nghĩa là ‘ba lần giữ chức Tổng trấn’ chứ không phải là ‘giữ 3 chức Tổng trấn’.

Nhưng dù sao thì cách nói này cũng dễ dẫn đến hiểu lầm về nhiều mặt, nên thiết nghĩ cần thống nhất minh định danh hiệu Song Tổng trấn của ngài Tiền quân.

3. Về các chữ Hán trên bức vẽ truyền thần thờ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức tại Tiền quân phủ và dấu ấn của các thầy Quảng tại Nam Kì đầu thế kỉ XX

  
Hình 6: Bức vẽ truyền thần và thẻ bài trước ngực Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Ảnh: Lê Công Lý.

Hiện nay, tại Tiền quân phủ có thờ bức ảnh truyền thần của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Góc trên bên phải có đề các chữ Hán:

嘉隆皇帝元奉阮黄德為郡公鎮歸仁城
五十五真像
嘉隆九年領北城縂鎮
嘉隆十一年嘉定城縂鎮掌前軍
平西將軍郡公虎將德

Gia Long hoàng đế nguyên phụng Nguyễn Huỳnh Đức vi Quận công, trấn Quy Nhơn thành.
Ngũ thập ngũ chơn tượng.
Gia Long cửu niên lãnh Bắc thành Tổng trấn.
Gia Long thập nhất niên Gia Định thành Tổng trấn, Chưởng Tiền quân.
Bình Tây tướng quân Quận công Hổ tướng Đức.

Đó là các thông tin tóm lược về công trạng và chức tước một đời của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Tuy nhiên, thông tin ‘ Gia Long thập nhất niên Gia Định thành Tổng trấn’ (năm Gia Long thứ 11, giữ chức Gia Định thành Tổng trấn) là không chính xác, bởi giai đoạn đó ngài đang lãnh chức Bắc thành Tổng trấn (1810 – 1815). Ngược lại, giai đoạn này, Tả quân Lê Văn Duyệt đang lãnh chức Gia Định thành tổng trấn[10].

Đồng thời ở đây viết 嘉隆皇帝元阮黄德為郡公 Gia Long hoàng đế nguyên phụng Nguyễn Huỳnh Đức vi Quận công là không chính xác, bởi theo mạch văn liệt kê lịch đại bên dưới, lẽ ra phải viết: 嘉隆皇帝元年阮黄德為郡公 Gia Long hoàng đế nguyên niên[1802] phong Nguyễn Huỳnh Đức vi Quận công.

Ngoài ra, trên bức vẽ truyền thần này có chiếc thẻ bài đeo trước ngực Tiền quân với nội dung hết sức đặc biệt.

Theo Trần Đức Anh Sơn, “Thẻ bài là vật dụng đặc biệt, dùng để ghi công hay để phân biệt danh tính, phẩm hàm, địa vị, chức phận của các hạng quý tộc, quan binh thời Nguyễn… Thẻ bài gồm hai loại: một loại là những huân chương, huy chương để tưởng thưởng công trạng hay huy chương danh dự của triều đình ban tặng cho các bậc vương công, đại thần, binh sĩ... Loại kia là những “phục trang” đặc biệt để phân biệt địa vị, phẩm hàm của những hạng người khác nhau trong xã hội. Ngoài ra, còn có những chiếc thẻ bài có giá trị như giấy thông hành, dùng để ra vào nơi cung cấm, hay được dùng như giấy ủy nhiệm của quan lại cấp trên giao việc cho thuộc hạ.

Khởi thủy, vua Gia Long (1802 - 1820) cấp cho các quan trong Cơ Mật Viện một ngân bài (bài bằng bạc) để ra vào Đại Nội. Năm 1834, vua Minh Mạng (1820 - 1841) bắt đầu cho làm các thẻ bài bằng vàng, gọi là kim bài, có đề 4 chữ Hán ‘Cơ Mật Đại Thần’ để ban cho các quan lại cao cấp được sung vào Cơ Mật Viện. Tùy theo chức tước và phận sự, các thẻ bài do triều Nguyễn ban tặng cho các quan được làm bằng vàng, bằng bạc mạ vàng hay bằng bạc. Từ năm Thành Thái thứ 16 (1906) trở đi, quan lại văn võ từ hàm thất phẩm trở lên nhận thẻ bài làm bằng ngà, từ thất phẩm trở xuống nhận thẻ bài làm bằng sừng trâu. Bài của quân lính phục vụ trong Đại Nội thì làm bằng chì, sau đổi làm bằng gỗ mun”[11].

Như vậy, các loại thẻ bài, đặc biệt là kim bài phải do triều đình ban tặng và thể hiện quyền uy tối thượng của triều đình cũng như sự phục tùng và tuyệt đối tin tưởng, gắn kết của người đeo đối với triều đình. Tuy nhiên, nội dung thẻ bài đeo trước ngực Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức hiện thờ tại chánh điện Tiền quân phủ lại có nội dung như vầy:

輯六韜眷三略知我者其惟春秋乎

Tập Lục thao, quyến Tam lược, TRI NGÃ GIẢ kì duy Xuân thu hồ!

(Làu thông binh thư thao lược, nhưng KẺ HIỂU ĐƯỢC TA há chẳng phải chỉ có kinh Xuân thu hay sao?).

Câu nói trên một phần lấy từ sách Mạnh Tử - Đằng Văn Công hạ: 知我者其惟春 秋乎罪我者其惟春秋乎 Tri ngã giả, kì duy Xuân Thu hồ; tội ngã giả, kì duy Xuân Thu hồ (Kẻ hiểu được ta, há chẳng phải chỉ có kinh Xuân Thu hay sao; kẻ trách tội ta, há chẳng phải cũng chỉ có kinh Xuân Thu hay sao?).

Như vậy, cũng giống như đức Khổng Tử sinh thời không thể phát triển được học thuyết chính trị của mình, nội dung thẻ bài nói trên thể hiện tâm trạng hoang man, u uất của một người sinh bất phùng thời, đương thời không ai cảm thông chia sẻ được lí tưởng của mình mà chỉ có thể trông mong vào đời sau (kiểu như Bất tri tam bách dư niên hậu,/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như – Nguyễn Du). Tâm trạng đó thật không phù hợp với Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức chút nào, vì cuộc đời ông may mắn lương tướng gặp minh quân, đã lập nên huân công tột bậc, lưu danh sử sách, chứ không phải dạng bất mãn thời thế như nhiều nhân sĩ ái quốc thời Pháp thuộc sau này.

Thật vậy, bức tranh thờ nói trên hiện lưu tại Tiền quân phủ rõ ràng được vẽ theo phong cách Pháp, nên có thể đoán định nó có niên đại đầu thế kỉ XX. Mặc dù trên bức chân dung đó có đề 五十五真像 Ngũ thập ngũ chơn tượng (hình vẽ lúc 55 tuổi - 1802), nhưng thực tế bức hình đó được vẽ đầu thế kỉ XX theo phong cách võ quan Pháp[12]. Chính vì vậy mà trên thẻ bài đeo trước ngực Tiền quân, thay vì ghi các chữ Hán có nội dung đề cao vương quyền nhà Nguyễn thì thực tế ở đây lại cho thấy tâm sự bi quan, bất mãn thời thế của người tạo tác, thể hiện ý đồ hun đúc tinh thần chống Pháp.

Hiện nay, khảo sát các di văn hiện tồn tại Nguyễn Huỳnh tông miếuTiền quân phủ có thể thấy danh sách những người tiến cúng nhân đợt trùng tu lăng mộ và đền thờ năm 1927 là các hương chức, trí thức địa phương, đặc biệt là Tú tài Lưu Đình Liệu (bút hiệu Quang Hiên) vốn là trí thức ở Quảng Nam vào Nam Kì dạy chữ Nho và nghề thuốc, chủ yếu lưu trú tại làng Tân Hội Đông, tổng Hưng Nhơn, tỉnh Mĩ Tho[13], giáp ranh với làng Khánh Hậu. Chính ông Lưu Đình Liệu đã cho chữ làm nhiều hoành phi, liễn đối hiện tồn tại Nguyễn Huỳnh tông miếu, đặc biệt là hai bài văn tế đức Tiền quân. Ông đã cùng với nhiều nhà Nho khác của đất Quảng đem tàn dư của phong trào Trung Kì dân biến (1908) vào Nam, dựa vào uy tín của các bậc đại thần cựu trào nhà Nguyễn như Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức để hi vọng củng cố hồi quang quá khứ, làm bàn đạp để khôi phục truyền thống dân tộc, nuôi chí Cần vương, hi vọng củng cố sức mạnh để tiếp tục chống Pháp[14] như nội dung đôi liễn ngôn chí của ông trưng bày tại Nguyễn Huỳnh tông miếu: ‘Kiếm ngựa Đông Sơn xưa vẫn còn đây;…Rồng mây nước Nam nay lại được thấy’.

Riêng nội dung chiếc thẻ bài nói trên vừa thể hiện tâm sự của nhà Nho ái quốc đương thời, vừa có niên đại trùng khớp với thời gian ông Lưu Đình Liệu lưu trú tại địa phương, lại được vẽ do họa sĩ cùng làng (Tân Hội Đông) mà ông lưu trú, nên có thể ước đoán: Ông Tú tài Quảng Nam Lưu Đình Liệu chính là tác giả của nội dung chiếc thẻ bài đó.

Như vậy, có thể nói, nội dung chiếc thẻ bài nói trên cùng với đôi liễn hiện tồn tại Nguyễn Huỳnh tông miếu có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, đánh dấu giai đoạn ẩn nhẫn trong lịch sử Nam Kì đầu thế kỉ XX.

4. Đôi điều nhìn nhận

Tuy từng là đại quý tộc phong kiến thời Nguyễn, nhưng do đất Nam Kì sớm rơi vào tay thực dân Pháp (chỉ 40 năm sau ngày mất của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức) nên di sản của Tiền quân sau đó không còn hoàn toàn mang tính chính thống của triều Nguyễn nữa mà chủ yếu mang tính chất gia tộc và dân gian, trong đó sự việc Nguyễn Huỳnh tông miếu đến những năm 1930 trở thành thánh tịnh Phủ Minh đường (Phủ Thờ) của phái Cao Đài Tiên Thiên chính là bằng chứng.

Tuy nhiên, cũng chính nhờ vậy mà dù đã hơn hai trăm năm trôi qua, với bao cuộc chiến tranh binh lửa, nhưng Nguyễn Huỳnh tông miếu và đền thờ - lăng mộ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức vẫn được gìn giữ, dù xuất hiện một vài dị bản, trong đó có dị bản chữ Hán, cần được hiệu chỉnh, cũng như những mật mã lịch sử cần được giải đáp.

Trong hàng loạt di sản đó, ngôn ngữ – mà ở đây là chữ Hán – vốn mang tính đa trị đặc biệt nên có lẽ cần được quan tâm trước hết để góp phần nâng đỡ và chuyển tải nhiều giá trị khác.

────────────

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

  1. Michel My (1926), S.E. Nguyên-Huynh-Duc, Maréchal d’avant-garde de Gialong, Saigon, Imprimerie Nouvelle Albert Portail.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn (1852, tái bản 1997), Đại Nam liệt truyện chính biên, Sơ tập, Quyển 7, Nxb Thuận Hóa, 1997.
  3. Đào Văn Hội (1951), Danh nhân nước nhà, Nhà in Lý Công Quan, Sóc Trăng.
  4. Nguyễn Huỳnh Khai, Nguyễn Huỳnh Ngọc (1963), Lịch sử gia phả Huỳnh tộc – Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức 1748 – 1819 . Bản in Ronéo.
  5. Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả TP.HCM (2003), Gia phả họ Nguyễn Huỳnh, TP.HCM.

CHÚ THÍCH:

[*] Đồng Tháp.

[1] Từ ngày 01/7/2025 là P.Khánh Hậu, tỉnh Tây Ninh.

[2] Bài minh gốc phiên bản 1818 hiện nay không còn mà chỉ có thể tham khảo trong cuốn S.E. Nguyên-Huynh-Duc, Maréchal d’avant-garde de Gialong của Michel My (1926), Saigon, Imprimerie Nouvelle Albert Portail, p.47.

[3] Mặc dù bản tu bổ được hoàn thành năm 1927 nhưng vẫn ghi theo niên đại tạo lập ban đầu.

[4] Đại Nam liệt truyện chính biên, Sơ tập, Quyển 7, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr.132.

[5] Đợt trùng tu năm 1927.

[6] Đại Nam liệt truyện chính biên, Sơ tập, Quyển 7, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr.136.

[7] Đại Nam liệt truyện chính biên, Sơ tập, Quyển 7, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr.136.

[8] Phiên bản 1927 biên thành Tả hữu đại định.

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện chính biên, Nhị tập, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr.325.

[10] “Năm Gia Long thứ 11 (1812)…lập tức sai Duyệt ra lãnh Gia Định thành tổng trấn, lại kiêm lãnh cả hai trấn Bình Thuận và Hà Tiên”. Đại Nam liệt truyện chính biên, Sơ tập, Quyển 22, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr.406.

[11] https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3101/19023/kim-bai-kim-khanh-ngoc-khanh-thoi-nguyen.html . Truy cập ngày 04/10/2025.

[12] Trong cuốn Danh nhân nước nhà (Nhà in Lý Công Quan, Sóc Trăng, 1951, tr.18), Đào Văn Hội cho biết: “Theo lời ông Nguyễn Huỳnh Tân, cháu 5 đời của Đức, thì bức chơn dung nói trên do họa sĩ Nguyễn Văn Vẹn ở tại chợ Củ Chi thành tâm tưởng tượng vẽ ra hồi năm 1942”.

Thời điểm năm 1942 đó có thể không chính xác, bởi trong cuốn sách đã dẫn của Michel Mỹ (1926) đã có in bức hình thờ này rồi.

Tuy nhiên, thông tin về tác giả bức vẽ thì có độ khả tín cao. Ông Nguyễn Văn Vẹn tuy vốn là thợ thủ công tại làng Tân Hội Đông nửa đầu thế kỉ XX, nhưng do sống trong chế độ thực dân Pháp cai trị nên ông không có dịp được nhìn thấy trang phục của các võ quan triều Nguyễn, đặc biệt là chiếc mão của các vị đại thần, nên ông đã vẽ bức chân dung Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức tuy mặc võ phục nhưng lại chỉ đội chiếc khăn đóng màu đen của tầng lớp trung lưu, không phù hợp với vị quan Nhất phẩm triều đình như ngài.

Riêng họa tiết dải lụa vắt chéo trước ngực, từ vai phải xuống hông trái của ngài lại chính là họa tiết trang phục của các võ quan Pháp và Cai tổng, Lí trưởng người Việt theo Pháp giai đoạn đầu ở Nam Kì.

Thật vậy, trong giai đoạn này, sĩ quan và lính Pháp chưa quen nhận diện, phân biệt những người Việt làm việc cho họ, nên có khi gò ép thiếu chuẩn mực, do đó Toàn quyền Nam Kì Bonard đã ra lệnh như sau: “Tổng thống Thủy Lục quân dân Toàn quyền đại thần Đại Phú Lãng Sa Bonard yết thị: Nay nghe có Cai tổng tới Lí trưởng ở các làng xã đang làm công vụ, có khi quân Tây không biết các người làm việc công mà cứ lấn lướt làm nhục. Đó đều vì không quen biết đưa tới. Nay bổn đại thần đặc biệt trừ bỏ việc ấy để khỏi làm lỡ việc công. Nay dụ cho xã dân các làng biết rõ: Cai tổng của các người thì đeo một dải băng 3 màu đỏ trắng xanh quàng từ vai xuống tới hông, Lí trưởng thì đeo một cái dải băng 3 màu đỏ trắng xanh buộc ngang hông để làm tiêu kí. Nhờ vậy quân Tây đều nhận biết tiêu ký ấy là thuộc nước Tây, nếu có tái phạm nhất định sẽ phạt tội quân Tây”. Trích Gia Định báo, số ra ngày 1 tháng 4 năm Nhâm Tuất (1862). Theo Cao Tự Thanh (2022), Hai tờ báo chữ Hán ở Nam Kì đầu thời Pháp thuộc: 嘉定報、南圻六省報, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022, tr.37.

[13] Kể từ ngày 01/7/2025, xã Tân Hội Đông sáp nhập vào xã Tân Hương, tỉnh Đồng Tháp.

[14] Trong tập Lịch sử ông Phật Đá tại chùa Linh Phước cổ tự (chữ Nôm) do Lưu Đình Liệu là tác giả, ông đã tự thuật như sau: “Năm nay Thiên vận là năm Tân Mùi, trào Nguyễn vua Bảo Đại năm thứ 6, Tây lịch tháng 5 ngày Đoan ngọ, tôi là Lưu thị, hiệu Quang Hiên, tôi nguyên người ở tại tỉnh Quảng Nam, thực người học khoa cử, thi trúng Tam trường, nhân vì bất đạt vận thời, tôi vào đất Nam Kì lục tỉnh, Nho Y tự lạc, nhàn dưỡng thiên niên, thọ nghiệp khóa thư, y phương độ hoạt. Nay tôi hiện ngụ tại làng Tân Hội Đông, tổng Hưng Nhơn đã mấy năm nay”. (Phạm Hoàng Quân sưu tầm và đọc).

Cũng tại Nguyễn Huỳnh tông miếu hiện tồn bức hoành đề 東南旺氣 Đông Nam vượng khí cũng do các vị vừa nói tiến cúng, cho thấy rõ dụng ý này.