DẤU CHÂN XUÔI NGƯỢC 

Xuân Vũ

 

Xóm Cổ C̣ có 3 cái nhà nền đúc của ḍng họ Bùi. Nhà của ông Cả nằm phía dưới ruộng. Hai ngôi nhà của ông cụ và ông Thôn Mười th́ nằm phía trên vườn, chỉ cách một mặt lộ. Cả ba đều nằm trong mục tiêu phá hoại.

Một buổi sáng ông Quản, Trưởng Ban Phá Hoại đến giải thích cuộc tiêu thổ kháng chiến.

Ông Thôn cười cười nói :

- Tây nó có đóng đồn th́ đóng trong chợ, canh chừng lộ đá và mấy con sẩm chớ ra đây canh ai? Mấy chú đừng lo. Hễ Tây tới, tôi đốt nhà tôi trước, không đợi mấy chú đến phá cho tốn mồ hôi.

Ông Quản làm hương chức sau ông Thôn bốn khóa. Ông Thôn Mười làm xă trưởng nổi tiếng hào hoa. Thân phụ ông cho con làm xă trưởng để đủ điều kiện ra tranh cử Cai Tổng, nhưng ông Thôn không ham chức quyền. Ông lại say mê đá gà. Ông lập cả trường gà trong nhà như Tư Diêu. Ông đến trường gà nhiều hơn đến nhà việc. Nhiều lần đem công nho đi nạp quận, ông ghé trường gà thua sạch.

Cách mạng tới lạc quyên hay nhờ vă việc ǵ, ông giúp hơn cả lời yêu cầu. Trên huyện trên tỉnh mời ông làm kinh tế, cố vấn, ông bảo :

- Trường gà th́ ở đâu tôi cũng đi tới, chớ c̣n công việc của mấy ông tôi không làm được. Xin cho tôi làm «nông dân cuốc đất » mà thôi.

Nghe ông Thôn nói, ông Quản thấy có lư nên lặng thinh. Ông Thôn nói tiếp :

- Tôi hứa chắc tôi không làm Việt gian, mấy chú yêu nước tới đâu tôi yêu tới đó.

Thế là ông Trưởng ban Phá hoại rút lui. Nhờ đó, ba ngôi nhà lớn nhứt của xóm Cổ C̣ c̣n cái nóc sau này cách mạng dùng làm cơ quan cho tỉnh, khu, cả Nam Bộ. Trung đoàn 99 của Đồng Văn Cống lấy làm dưỡng đường, trường Quân chính, trường Y tá, và đám bộ đội quốc tế người Đúc, Nhựt, Tây ban Nha cũng được Hoàng Xuân Nhị dạy chánh trị ở đây.

Sau đó vài hôm, quân đội Pháp tổng ruồng Cù lao Minh chuẩn bị đóng bót.

Tổng ruồng là một cuộc ruồng lớn gồm hải lục không quân phối hợp, chúng đổ bộ từ hai phía Hàm Luơng và Cổ Chiên, lính Lê Dương Đầu rằng, Mặt gạch (Malgaches, Sénégalais) với xe lội nước chạy đen đồng, đụng ai giết nấy. Điểm gặp (point de jonction) của chúng là Chợ Cầu Mống.

Ở cánh Minh Đức, chúng bắt sư cụ Thái Không (v́ ông đă đem cái đại thần chung bằng đồng của chùa hiến cho Tuần Lễ Vàng), dùng áo cà sa cột cổ và buộc sư cụ vào xe lội nước, lôi cho tới chết. Ở phía Hương Mỹ, chúng đốt (không cháy) nhà hội đồng Nhơn và bắn cả trăm con trâu để phá hoại mùa màng cốt gây nạn đói.

Khi chúng rút đi, chúng để lại một trung đội Lê dương, Miên gian, Việt gian do một tên đội chỉ huy : Đội Định.

Trước hết tên nầy dán yết thị truy nă gắt gao nhứt hai người : Bảy Sanh, chỉ huy trưởng đội Cảm tử quân và ông Quản, trưởng ban Phá hoại, kẻ đă đốt cây cầu Mống.

Đội Định đến chành lúa của người Tàu, c̣n có tên là Tiệm Mới, một tiệm chuyên mua lúa đặt ở bên dốc cầu Mống đối diện với Chú Đặng ở bên kia dốc.

Đội Định bảo :

- Mời mấy ông đi ra cho tôi mượn cái tiệm ít bữa.

Người chệt già chủ tiệm đầu hói, bụng phệ cự nự :

- Káy tiệm lày, ngộ ́a pên Tàu oa đay mua mà !

Đội Định quắc mắt :

- Có ra không th́ nói.

- Ngộ có lói cho lồng minh piếc mà !

Đội Định rút súng lục mổ trên đầu lăo chủ tiệm. Lăo tru tréo liền bị đá lăn cù. Người làm công chạy tới đỡ lăo dậy.

Thế là cái Tiệm Mới trở thành đồn lính, và chấm dứt một thời chú Ba làm vua mua bán lúa ở vùng nầy. Chiều chiều, người dân Chợ Cầu Mống không c̣n tháy cảnh mấy chú Chệt bụng phệ ngồi chễm chệ trong những chiếc ghế bành bằng mây, kéo ống điếu b́nh phun mây nhả khói nh́n những giọt mồ hôi của nông dân VN của vùng nầy chảy vào hầu bao của họ để trở thành vàng bạc mọc cánh bay về Tàu.

Tên Đội Định bắt dân làm đồn bót và đắp lại những khúc lộ bị phá hoại, nhưng lộ đắp xong hôm nay th́ ngày mai bị đào như cũ. Con đường từ Mơ Cày tới Cầu Mống dài 14 cây số bị đào thành h́nh nanh sấu. Những chiếc cầu sắt như Bếp Lư, Mương Điều, Cầu đúc nhỏ, Cầu đúc lớn, Ngăi Đăng, Cầu móng đều bị phá sập không sửa chữa được. Chúng phải bắt cầu nổi cho xe nhà binh đi, c̣n xe đ̣ th́ ngưng hẳn.

Chợ không c̣n nhóm, Ư Ban đặt trụ sở ngoài đấu ấp B́nh Đông. Bây giờ muốn xin một cái giấy phải đi ṿng. Không một ai ra làm việc cho giặc, kể cả những chức sắc trong Ban Hội tề cũ.

Các đột thanh niên, thiếu niên vẫn c̣n tập đi điều bước, tập hát như thường, nhưng có canh gác. Mỗi cuộc họp trước khi khai mạc đều định« kế hoạch thoát thân», nghĩa là nếu có giặc tới th́ phải tính chạy đường nào cho có trật tự.

Các ban ở áp vẫn hoạt động, nhưng trong khẩn trương và bí mật. Dân ở chợ bắt đầu tản cư để tỏ sự bất hợp tác với giặc.

Trí vẫn theo trâu ra đồng nhưng không được thảnh thơi nằm trên lưng trâu hút nước dừa nạo nh́n những c̣ trắng lướt trên lưng trời như trước nữa. Mắt phải căng ra nh́n. Hễ thấy có ǵ khả nghi « có lính» th́ phải lo trước. Đội Định ngày nào cũng dắt lính đi ruồng, ngày nào cũng có tiếng súng. Hắn vượt ra khỏi ranh làng, có khi ra tận xóm Cổ C̣. Có lần chú Bảy Nén thấy lính sợ chạy xuống ruộng bị chúng bắn chết.

Một lần khác chúng kéo ra tận chợ Tân Hương bắn chết anh Hoàng Trọng Liễn, phó đoàn Thanh Niên Cứu Quốc huyện Mơ Cày, bắt ông Lâm Thiên Tứ và con trai ong là Lâm Thiên Trường đem về bắn tại chợ Cầu Mống.

Người nhà đem xuồng vào xin xác, hắn bảo :

- Đem hai tên cán bộ sống đổi lấy hai cái xác.

Hắn nghêng ngang thô lỗ, tự xem ḿnh như ông vua con.Sáng nào hắn cũng ghé quán nước chú Lục uống cà phê trước khi đi ruồng. Một bữa hắn vào quán, sau khi ăn uống no nê, thấy có đông khách, hắn bèn tháo băng đạn và lọi từng viên ra bụm trong ḷng bàn tay, xong lắp lại và bảo mọi người :

- Súng nầy ria một ra phan là chết trăm mạng. Nói xong, hắn đặt cây súng lên bàn rồi ung dung hớp cà phê rồi ṃ lưng rút trái lựu đạn giống như cái chài đăm tiêu vênh váo nói :

- C̣n đây là lựu đạn Đức Quốc, chợ họp đông, quăng một trái không một mạng sống sót.

Bỗng hắn ngă sấp. Một cánh tay đấm vào cổ và một bàn chân đạp vào lưng hắn. Khi hắn ngồi dậy được th́ cây súng «bắn chết trăm mạng» đă biến khỏi mặt bàn. Hắn đuổi theo, nhưng người chủ mới của khẩu súng vung trở lại. Hắn nằm mọp xuống sợ ăn ra phan nhưng cũng không dám ném trái lựu đạn Đức Quốc. Hắn về đồn dắt lính đuổi theo bắn tứ tung.

Ở ngoài ấp, ông ba Quan đang nằm trên vơng giảng bài cho Năm Phụng, Bảy Tuồng và Tư Lộc. Trí làm thơ kư như thường lệ.

Mấy lúc gần đây, ông Ba càng yếu, tay ông sưng phù, chân ông bước không vững. Móng tay móng chân thâm tím lại, ông nói một lát th́ phải ngưng lại để lấy sức. Trái cây và gà vịt gởi tới tặng không ngớt, nhưng ông không dùng được nhiều. Chú hai Huỳnh là thầy thuốc Bắc và là Phó Chủ nhiệm thôn bộ Việt Minh , thường tới lui xem mạch và hốt thuốc cho ông. Thuốc Bắc th́ có tiệm của thầy Ba xă, thầy thuốc nổi tiếng nhứt ở chợ Cầu Mống tặng không.

Bữa nay đang giảng bài bỗng nghe có tiếng súng gần, ông Ba ngồi bật dậy. Bảy Tuồng và Năm Phụng mở vơng xỏ đ̣n khiêng ông Ba lên mé sông có sẵn một chiếc xuồng buộc ở đó pḥng khi hữu sự. Từ khi lính đóng đồn th́ địa điểm của ông Ba dời lên gần mé sông để dễ bề di chuyển. Trong khi Bảy Tuồng và Năm Phụng đưa ông Ba lên mé sông th́ Tư Lộc chạy xuống lộ xem t́nh h́nh c̣n Trí lo cuốn dẹp giấy tờ. Xong Trí chạy theo chú Lộc bị chú quát :

- Mầy chạy băng vườn về nhà đi, đừng có theo tao!

Trí đang lựng khựng chưa biết làm ǵ th́ đă thấy mấy tên lính trờ vô sân nhà.

- Chạy đi chú Tư !

- Mày chạy đi ! Tư Lộc quát trả rồi lui vô nhà bếp rút con dao yếm th́ hai tên lính cũng vừa tới thềm nhà. Tư Lộc xông ra.

Trí chạy lên mé sông bảo chú Bảy Tường hăy lui ghe th́ nghe một tiếng súng nổ chát chúa, viên đạn như bay xé không khí qua mọi đầu người. Bảy Tuồng nói :

- Thằng Lộc hy sinh rồi !

- Sao chú biết ?

- Ờ để rồi coi !

Năm Phụng lẩm bẩm

- Từ khi Tây đóng đồn nó nói với anh Ba gặp lính nó quyết tử.!

Ông Ba ngồi lặng ngắt, hait ay bám be xuồng, quay mặt về phía đường, hai giọt nước mắt tuôn ṛng ṛng. Hồi lâu, ông bảo :

- Trí về nhà đi cháu, để ba má cháu lo.

Trí băng đường vườn, một đoạn rồi không c̣n đường tắt nữa, phải xuống lộ nhưng lại đụng bọn lính, phải trở lên vườn chuyền bụp lá. Đến ngang nhà thằng Thổ (Miên) th́ dừng lại chợt thấy một cái mả mới. Trí đoán là mả của thằng Thổ. Tự nhiên hai chân Trí rụng rời, không bước được nữa.Trí dựa vào một gốc dừa tơ, bỗng nghe tiếng kêu : « Anh Trí»

Trí quay lại th́ thấy Trâm, cô giáo dạy B́nh Dân Học Vụ. Trâm học trường Áo tím bên MỹTho, tản cư về nhà ngoại nàng ở đây, cách nhà bà Bồi một cái mương. Trâm muốn trở lại trường nhưng cha nàng dính chân trong Ban Y tế huyện nên có ư đem nàng theo. Hai đứa cùng học ở MỹTho, bất ngờ gặp nhau ở thôn quê, nhưng không thân thiện, không nhắc cả chuyện Mỹ Tho.

- Trâm làm ǵ qua đây ?

- Nghe súng tôi sợ quá, chạy trốn

Trí cũng không khá ǵ hơn Trâm chuyện súng ống, nhưng nghe Trâm nói th́ cười thầm. Trí từ trên vườn chạy bọc xuống, đến sân sau th́ thấy ở sân trước lao xao bóng lính. Tiếng súng khua rôm rốp. Tiếng giày nện rầm rập rồi lính xông vào nhà. Một tên cao lêu nghêu đầu đội ca-lô có cờ tam sắc cầm cây súng ngắn : đội Đinh.

- Chủ nhà đâu ?

Bà Hai đang nấu cơm bèn chạy ra :

- Dạ tôi đây.

- Bà là ai ?

- Dạ tôi là vợ của ông Hai.

- Ông Hai đâu ?

- Dạ chồng tôi đi làm ruộng !

- Ỏng làm cho Ủy ban chớ ruộng rẫy ǵ. Tôi kỳ hẹn cho ổng ba ngày phải ra làm việc cho nhà nước, không ra, tử h́nh !

- Dạ.

- Trong khi chờ đợi ổng ra, tôi mời bà về bót. Ê, tụi bây dắt bà già nầy đi !

Trí đang lủi trốn trong nhà cũi, nghe thế bèn chui ra chạy tới :

- Tôi xin chịu bắt thay cho má tôi.

- Mày là thằng nào ?

- Dạ tôi là con.

Tên đội nhe hai hàm răng vàng cười và nh́n từ đầu đến chân Trí, giọng mĩa mai :

- Con có hiếu dữ he! Được rồi, thả bà kia, bắt thằng nầy về bót. Tôi hẹn cho bà 3 ngày, nhớ chưa ? Nếu chồng bà không ra làm việc, th́ bà lên mé sông vớt xác thằng con. Bây giờ đốt nhà cái đă !

Đám  pạc-ti-dăng dắt Trí về chợ . Khi đi ngang qua nhà Năm Phụng chúng ghé lại. Ở giữa sân, xác Tư Lộc nằm tvũng máu. Một tên lính báo công :

- Dạ thầy Đội, tên nầy suưt giựt được súng của em. Em lượm được hai trái lựu đạn của nó nè thầy đội.

Tên đội xem qua không nói ǵ, vẫy tay cho đám lính trở ra. Tên đội hỏi Trí :

- Thằng đó có theo Việt Minh không mà dám giựt súng tao?

- Dạ tôi không biết, Trí đáp mà không dám nh́n ai , chỉ ngó lên ngọn dừa.

- Nó làm chức ǵ ở đây ?

- Dạ tôi không biết.

- Hừ, c̣n mầy làm tổ trưởng hay ấp trưởng ?

- Dạ tôi không có làm ǵ hết, tôi đi học mới về nhà.

- Mày học ở đâu ?

- Dạ em học ở Mỹ Tho. Trí đột nhiên xưng em.

- Trường nào ?

- Dạ Le Myre de Vilers

Tên đội giựt ḿnh ngó Trí lom lom.

- Em học lớp mấy ?

- Dạ c̣n một năm nữa em thi diplôme.

- Học Tây sao theo Việt Minh ?

Trí làm thinh và lẵng lặng đi theo viên đội, c̣n tên đội nghe Trí có học th́ nể, không mầy tao với Trí nữa. Hắn giơ cây súng ra hỏi :

- Cái nầy tiếng Tây gọi là ǵ ?

- Revolver, pistolet

- Phải một rafale giết 300 mạng biết không ?

Trí trố mắt nh́n, không hiểu thứ vũ khí lạ lùng.

- C̣n cái nầy, viên đội vỗ vào hông hỏi tiếp :

- Grenade, Trí đáp gọn lỏn

- Nhưng đây là lựu đạn Đức Quốc, một trái quăng ra tan một mít-tinh của Việt Minh.

Về tới chợ, hắn bảo :«Cái đồn nầy cũng chỉ vài trái là tan».

Dân chợ không ngờ hắn đóng bót mau vậy.

Ở chợ Cầu Mống nầy chỉ có Hội đồng Nhơn là người duy nhứt không bán lúa cho Tiệm Mới của Chệt. Ông dùng ghe chài của ông chở đi bán lấy.

Chành lúa nầy hàng năm thu hút của nông dân địa phương và các xă lân cận và chứa thường trực 10 ngàn giạ. Người nông dân chất phát thật thà không bao giờ nghĩ mấy chú chệt nầy lột da họ, trái lại họ c̣n cám ơn mấy chú mua giá cao.

Đội Định dùng lúa bao để xây pḥng tuyến. Hăy tưởng tượng những bao lúa chất một lớp bên trong vách tường, bên ngoài đấp đất và tấn thêm gạch đá. Thử hỏi súng nào bắn thủng ?

Những người bị bắt trong cuộc ruồng được đưa về ngồi dưới hàng me trước bót. Một tên người Miên cao lớn cởi trần, vai u lên như ḅ mộng tên là Thổ Gu, mắt đỏ nọc, tay cầm chai rượu tay cầm khúc cây từ trong bót đi ra đập lia lịa vào đám người. Hắn ngừng tay, ngửa cổ lên uống ừng ực ném cái chai đánh xoảng vào gốc me rồi đến xách tóc lôi từng người vào khoảng đất trống gần đó đè nằm xuống và đập tiếp. Giọng hắn lơ lớ :

- Tại sao mầy làm Việt Minh ?

Một người nông dân bị đập bể đầu chét tươi. Tên Miên lôi xềnh xệc đẩy xuống mé sông, rồi trở lại Trí, hắn đưa bàn tay hộ pháp nắm cổ Trí vung ra. Trí nhào chúi lúi nhưng gượng đứng dậy.

- Nằm xuống đó mầy, tên Miên vá chiếc gậy vào mặt Trí quát .

Trí hoang mang không biết nên làm theo lịnh tên mọi đen nầy hay chống lại hắn. Chống th́ sẽ bị đánh chết như người nông dân kia c̣n nằm th́ nhục quá. Trí va sáng kiến :

- Thầy đội bắt tôi về để làm interprète cho thẩy mà, chớ tôi đâu phải là Việt Minh!

Tên Miên nghe tiếng Pháp th́ có vẻ sợ. Hắn để Trí đứng đó, vào bót một lúc rồi trở ra xá xá Trí :

- Bẩm thầy…thông ngôn. Ông đội mời thầy vô …trỏn

Trí chưa biết vào trong đó việc ǵ sẽ xảy ra, nhưng thoát được tên hắc quỉ nầy là tốt rồi. Trí vọt đi ngay.

Viên đội vẫn giữ thái độ tử tế lúc năy với Trí :

- Nó có đánh em chưa?

- Dạ chưa.

Viên đội hất hàm sang một người đàn ông đứng gần đó hỏi :

- Em biết ai đây không ?

Trí nhào tới ôm người kia và reo lên :

- Bác Sáu ! Bác Sáu rồi ̣a lên khóc.

Người đàn ông đợi cho Trí dứt khóc rồi hỏi :

- Sao cháu bị bắt vậy ?

- Dạ cháu không biết

Viên đội nói :

- Tôi sẽ giam nó đến chừng nào ông già nó ra làm việc tôi mới thả.

Rồi tên đội ra lịnh cho lính lôi đi, xô Trí vào một gian buồng đầy lúa lên mộng trong góc tường  như hàng ngàn mũi chông kim.

* * *

Mặc dù bót đă đóng chợ Cầu Mống, đội Định dắt lính đi ruồng hằng ngày, và mặc dù tổng ruồng bằng hải lục không quân, nhưng dân Hương Mỹ vẫn không ngán. Pháp có một đ̣n phép là đốt nhà, nhưng dân cũng không ghê. Bộ đội về họ lũ lượt xách gà vịt tới thăm và coi súng.

Nhà ông thôn Độ rất rộng. Ngoài hai cái nhà nền đúc đâu lưng nhau, ông c̣n một cái nhà đăi, một cái nhà khách tách rời nhà lớn. Đám giỗ, bà con ḍng họ đến vẫn có dư chỗ.

Bộ đội đến vừa đặt ba-lô xuống ván là ông Thôn bảo :

- Đứa nào đó, bắt con heo làm thịt coi bây.

Lịnh phán ra, con heo kêu cái éc. Chập sau có cháo ḷng và thịt phay dọn lên. Bộ đội ngồi hai hàng húp cháo và nói chuyện vang nhà. C̣n ban chỉ huy và ông Thôn th́ ngồi một bàn riêng. Bỗng một người đầu bịt khăn choàng tắm đi vào. Ông Thôn sốt sắng bảo :

- Đứa nào đó lấy thêm chén đũa, tao có khách quư bây. Sao chú Tư? Gà qué lúc nầy ra sao ?

- Hàng xáo thưa bộn anh Mười à ! C̣n trong nầy ?

- Tôi cũng cúng tổ cầm chừng thôi, chớ không lẽ mần thịt mấy con gà nghề của tôi sao !

- Tôi phải chạy ba chưn bốn cẳng mới lo kịp. Lớp tiếp tế bộ đội, lớp vô nghệ mấy con gà. Trường tôi mở vài hiệp nữa chắc đóng cửa luôn. Trận tổng ruồng vừa rồi nó đốt nhà tôi. Bà già tôi rầy quá xá ! Bả nói là tại mấy cái trường chứa ba con gà gáy nên Tây nó nghe nó tới đốt nhà. Tư Diêu vừa cầm đũa vừa nói :

- Anh chơi ngon he. Vừa đón bộ đội đă mần heo.

- Của chung nếu mất của riêng sao c̣n chú Tư nó ! Đây là lót ḷng cho tối nay an hem khỏi xót ruột, chớ mai tôi cho vật ḅ.

- Dân Cầu Mống luôn luôn chơi bảnh, tôi biết mà. Tôi tưởng trong nầy lo chưa kịp tôi định chở gà vịt vô đây.

- Chơi thứ nặng kia, chớ đồ bổi ăn nhằm ǵ !

Tư Diêu hỏi ông Thôn :

- Anh Mười biết mấy tay hiệp sĩ nầy chưa ?

- Từ lâu, tôi chỉ văn kỳ thanh, nay mới kỳ h́nh.

Tư Diêu trỏ từng người ngồi quanh mâm và giới thiệu :

- Đây là ông chủ ṣng me Cái Mít kiêm chủ trường gà Cầu Đúc, tên là Hai Phải quê ở Thạnh Phú Đông. Lính c̣ nghe ổng ở đâu th́ chỉ lo trốn chớ không có dám tới hỏi giấy bắt bớ đâu. Lớ quớ đâm vào gặp ổng th́ ăn ghế đẩu phun máu đầu.

Quay lại ông Thôn, Tư Diêu tiếp :

- C̣n đây là cựu thôn trưởng lành Hương Mỹ kiêm chủ trường gà Cổ C̣, đặc biệt ổng đá trận nào cũng thắng to, nhưng tủ sắt công nho đi hết, phải bán đất bù vào. Ông mê gà ṇi hơn chức cai tổng nên không ra ứng cử.

C̣n chú th́ thế nào, ông Thôn hỏi :

Tư Diêu cười :

- Tôi hả ? Tôi thua anh xa. Ông già cho đi trường học chữ Nho,nhưng tôi chỉ đi trường gà. Một tháng chưa thuộc ba chữ «nhơn chi sơ»., tay rờ cơm nguội. Ba người cười ngả nghiêng. Tư Diệu tiếp :

- Bộ đội Hai Phải hồi mới thành lập có mấy ngoe, nhưng bây giờ đông quá, chạy gạo mệt ghê !

Ông Thôn nói :

- Minh Đức với Hương Mỹ hiệp lại nuôi không nổi hay sao?

Tư Diệu chỉ hai người ngồi kế bên Hai Phải và nói :

- Hai ông nầy là tướng cạnh của Hai Phải đây ! Tay nào cũng ôm súng «bàn nạo» (FM) bắn một hơi 6 băng không đặt xuống đất. Sức mạnh như Tiết Nhơn Quư nên ăn như Tạ Hầu Đôn vậy đó.

Bỗng có người báo là có khách đến. Ông Thôn nh́n ra ngoài sân. Ba người kéo hàng ngang xâm xâm đi vào. Người đi bên trái mặc bờ-lu-sông  xanh lá cây không có áo trong mà cũng không gài nút với cây súng lục lắc lư bên hông. Cặp gị đá banh đen sạm gân guốc, chân không, bước nhanh, có vẻ là nhà quân sự nhưng ngược lại, tóc rẽ đường ngôi giữa rất thẳng và chải láng ngời, lại ph́ phèo điếu thuốc cháy gần hết.

Người đi giữa th́ to lớn giềnh giàng như Tây lai, đầu kên chiếc mủ sắt, chân mang dài đinh bước rất dài và khua to. Người đi b́a bên phải th́ trái ngược hoàn toàn với hai bạn đồng hành. Vóc dáng mảnh mai, da trắng, môi son. Lưng đeo cây súng ngắn tiệp với bộ đồ đen, áo có cầu vai và quần túm ống. Cả ba đi vô nhà. Các vị thực khách nh́n ra và nhận là người quen. Đó là Tỷ Cà Lăm, chỉ huy trưởng phân đội Phạm Hồng Thái, Romand và Hồng Minh Quang, chỉ huy trưởng và phó bộ đội Trương Công Định.

Ông Thôn kêu nhắc ghế thêm và mời khách ngồi. Romand lễ phép hỏi ông Thôn :

- Dạ thưa đây có phải là nhà của Bùi Trang Ḥa không thưa Bác ?

- Phải, Ḥa là con tôi ! Ông Thôn đáp, cháu ở đâu đến t́m nó ?

- Cháu là bạn học của anh Ḥa, quê cháu ở Tân Thanh B́nh.

- Nói vậy chú là người cùng quê với ông Ca Văn Thỉnh , chủ tịch tỉnh ḿnh ?

- Dạ phải, cháu cũng là bà con bên ngoại với họa sĩ Lê Văn Đệ.

Ḥa xuất hiện rồi lôi Romand đi chỗ khác để nói chuyện. Tỷ Cà Lăm hỏi Hai Phải :

- Đại ca…vừa làm một cú gọn hơ hả ?

Hai Phải nói :

- Thu được 4 cây mút thôi. Hai cây ăng lê đầu ló, hai cây Nhựt đầu bằng, bắn rất êm, không giật như mút Anh-đô –xi-noa của Pháp. Nhưng ngặt là ít đạn quá, không biết kiếm ở đâu ra. Mấy chú có không, cho vay một mớ.

Tỷ Cà Lăm và mấy người kia đều xưng em với Hai Phải và gọi bằng đại ca v́ nể tuổi tác và sự gan dạ của Hai Phải.

Hồng Ming Quang hỏi :

- Đại ca làm cách nào mà «ăn ngon» vậy ?

- Bữa đó trời nắng như đổ lửa, cái bót ngă ba Giồng Chùa chưa xây xong. Mấy thằng Tây chịu nóng không nổi bèn đi vào xóm.Thằng nào thằng nấy mặt như gà chọi, gặp tụi tui đang tắm dưới ao cá nuôi. Một thằng vẫy tay, tụi tôi lên bờ vừa đi vừa rỉ tai nhau :« Mần cú nầy nhe». Tôi chưa tính ra kế ǵ th́ một thằng chỉ lên ngọn dừa rồi trỏ vào họng nó. Tôi biết chúng muốn uống nước dừa. Từ đây về đồn cũng không xa lắm. Liệu bề mần ăn được, tôi bảo nhỏ hai thằng em, rồi vô nhà lấy cái chét lá.

- Mấy chú biết cái chét để róc lá không ?

- Dạ biết, đại ca.

- Nó bén như thanh long đao, sả một phát đi ngọt 10 bản lá. Nhưng chúng nó có 4 đứa, bọn tôi chỉ có ba. Tôi bảo mấy đứa em leo lên bẻ dừa quăng xuống. Tôi lượm vạt mặt từng trái nhưng không cho tụi nó uống.Cứ để xếp hàng sẵn đó. Chờ hai thằng em xuống, tôi bảo vô nhà lấy thêm dao. Một đứa t́m được con dao yếm, một đứa t́m được cái mát vót. Mỗi đứa đều có đồ bén trên tay, tôi bảo vạc mặt dừa một lúc và đưa cho chúng. Ba thằng vừa ngửa cổ lên uống ừng ực th́ tôi vạc một trái đưa cho tên cuối cùng. Tôi vừa đứng dậy th́ nó cũng vừa ngửa cổ lên uống. Phụp ! Nhát chém đầu tiên của tôi như nổ súng lịnh.Hai thằng em chém hai tên kia trong lúc tôi thím xực thằng thứ hai. Bốn tên ngă liền tại gốc dừa. Cổ thằng nào cũng gần đứt ĺa.

Dao chém đâu có nghe tiếng động. Tụi tôi thu lượm chiến lợi phẩm êm ru. Đến chiều, tụi ngoài bót mới vô t́m được xác. Chúng đốt rụi cả xóm, nhưng đồng bào c̣n bảo «  Cứ chém đi, bà con sẽ ra lộ cái, gỡ lấy nhíp xe Tây bị đốt cháy đem cho thợ rèn thêm nhiều chét lá nữa.

Ông Thôn nói :

- Thanh niên xóm nầy cũng đởm lắm. Có đứa mới giựt được cây mi trai dết của thằng xếp đồn. Nó kêu đem trả cho nó, hạn trong 3 ngày không trả nó sẽ đốt hết ấp. Không biết bây giờ cây súng đó ở đâu ? Ông Thôn quay qua hỏi người nhà :

- Có đứa nào gặp thằng Khá không bây ?

Một tiếng đáp :

- Nó sợ lính ruồng, nó trốn dưới xóm cḥi, không dám về vườn bác Mười ơi !

- Sợ cái ǵ, bộ đội về đây, úp cả cái đồn Cầu Mống cho coi. Biểu nó đem cây súng giao cho bộ đội, không khéo nó sợ quá, nó đem nhận dưới đ́a sét hư hết.

Bữa tiẹc xong, ông Thôn kêu dọn dẹp rồi đem trà thuốc ra đăi tiếp. Ông biết các ông

« kẹ» nầy gặp nhau là để bàn kế hoạch tác chiến, nên ông và Ba Kích, Năm Hà, hai người em của Hai Phải rút lui. Tư Diêu cũng kiếu từ.

Hồng Minh Quang mở đầu :

- Tụi em hỏi đàn bà đi chợ th́ biết tụi lính trong đồn có chừng hai mươi mấy thằng. Trước ngày thằng đội xếp bị giựt súng, sáng nào lính cũng ra ấp ruồng, bỏ đồn trống lỗng. Nhưng từ ngày mất súng, tên đội chỉ kéo đi chừng 10 thằng, c̣n bao nhiêu ở lại giữ đồn. Như vậy rất tiện. Em bàn với đại ca kế hoạch tác chiến như thế nầy. Hễ lính ra hai ấp B́nh Đông và B́nh Tây th́ em và anh Tỷ chận đánh. Em chịu mặt chính diện, anh Tỷ khóa đít không cho một tên sống sót. C̣n phần đại ca th́ công đồn. Hai đứa em diệt xong tụi ruồng th́ sẽ kéo ra tiếp với đại ca hạ đồn. Ngược lại nếu bọn lính ra ấp Thạnh Đông (tức là ấp nầy) th́ đại ca chận đánh c̣n hai đứa em công đồn.

Hồng Minh Quang vừa nói vừa chấm ngón tay vào tách trà vẽ sơ đồ trên mặt bàn. Hai Phải vừa hút thuốc vừa chăm chú nghe, thỉnh thoảng lại hỏi thêm vài điểm về hỏa lực hoặc về địa h́nh. Anh có tật nóng nảy vừa hút vừa cắn nhai đuôi điếu thuốc. Thuốc chưa cháy hết, anh đă liệng đi để cuộn điếu khác.Lắm khi bàn tới bàn lui, anh hất đổ sa bàn rồi quyết định kế hoạch. Anh bảo đánh giặc mà cứ bàn, không đánh được ! Nhưng lần nầy anh kiên nhẫn nghe Hồng Minh quang, và kế hoạch nầy cũng chỉ tŕnh bày trong vài phút đồng hồ. Nghe xong anh nói :

- Mấy chú phải diệt sạch bọn đi ruồng, không cho chúng nó chạy xuống bót Giồng Luông, cũng không để chúng thối về đồn Cầu Mống, như vậy tôi sẽ hạ đồn như trở bàn tay.

- Hai đứa em hứa sẽ không để một tên chạy thoát.

- Nhưng mà…hai chú có nhiều chiến sĩ hay không ?

- Dạ cũng có bộn bộn, nhưng nhiều cậu cầm súng mà chưa biết bắn. Phục kích xong rồi chỉ huy c̣n phải ḅ tới chỉ cách. Nhiều cậu lắp viên đạn cứ bóp c̣ hoài rồi chê đạn lép.

Tỷ Cà Lăm tiếp :

- Mấy đứa đó em tới cú đầu và giục đ.m…sao không chịu xu…ung pho…ong ?

Hai Phải cười ngất :

- Bị chú cú đầu rồi nó làm sao?

- Nó cứ nằm miết không chịu đứng dậy. Chừng về nhà em rầy, nó nói nghe súng sợ quá không dám đứng dậy. Em bảo…đ.m…như vậy th́ ở nhà …nấu cơ..ơm tô…ốt hơn.

Hai Phải nói :

- Anh em mới vô ḿnh phải tập lần, chớ đâu có bắt họ xung phong như ḿnh được.

- Với tôi là đ.m..ra trận…hễ súng nổ là phải đ.m.. xu..ung phong chớ không có nằm

mi.. ết một chỗ, Tây nó cư…ời !!

Romand bước sang ngồi vào bàn, nhái giọng bạn :

- Kỳ nầy anh đừng có đ.m…xu..ung phong nữa nghen. Tây nó nghe nó cư…ời ông chỉ huy đó !

Bỗng có liên lạc đưa thơ tới. Hai Phải xé ra coi rồi ngồi làm thinh, miệng cứ nhăn nhăn đuôi điếu thuốc làm quai hàm bạnh ra. Romand nhỏ nhẹ :

- Đưa em xem chút được không anh Hai!

- Được chớ. Người ta gởi chung cho bộ đội chớ không phải riêng tôi.

Romand mở ra đọc. Hồng Minh quang nghiêng qua nh́n những ḍng chữ đánh máy trong lúc Tỷ Cà Lăm cứ rót trà uống.

Bộ Tư Lịnh Chiến Khu VIII

Kính gởi,

Ban Chỉ huy các Bộ Đội trong Khu,

… Nước ta được Trung ương chia ra thành 9 chiến khu. Chiến khu I gồm các tỉnh Việt Bắc, chiến khu  II gồm các tỉnh Trung du, chiến khu III gồm các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, chiến khu IV gồm các tỉnh Thanh Nghệ Tỉnh B́nh Trị Thiên, chiến khu V gồm các tỉnh Nam Ngăi B́nh Phú, chiến khu VI các tỉnh Phan rang, B́nh Thuận, chiến khu VII các tỉnh miền Đông Nam Bộ, chiến khu VIII các tỉnh vùng Tiền Giang : MỹTho, Bến Tre, Tân AN, Sa Đéc, Vĩnh Long, Đồng Tháp Mười, chiến khu IX các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Sốc Trăng, Bạc Liêu…

Để có sự thống nhất chỉ huy các bộ đội vơ trang phải sát nhập thành đơn vị.  Tùy theo hoàn cảnh mà các địa phương thi hành chỉ thị này.

Tư Lệnh

Trương Văn Giàu

Tư Lệnh Phó                                                                  Chính trị Bộ Chủ nhiệm

Trần Văn Trà                                                                     Nguyễn Văn Vịnh

                                     (Đóng dấu, kư tên)

Xem xong, Romand hỏi Hai Phải :

- Anh tính sao anh Hai ?

- Tính sao cái ǵ ?

Hai Phải vốn không ưa chữ nghĩa nên không đọc suốt công văn. Romand tóm tắt và nói :

- Ở trên bảo bộ đội ḿnh phải sát nhập.

- Ở trên nào ?

- Dạ trên Khu

- Khu nào ?

Càng hỏi, Hai Phải càng bực dọc c̣n Tỷ Cà Lăm th́ trợn mắt quát :

- Khu tô hay khu ché…én

- Đây là chiến khu 8 đó anh Ba (Tỷ thứ ba)

- Tao không có biết ai hết !

Hai Phải nhăn điếu thuốc ném đi và bảo :

- Hồi tát đ́a cong lưng không có cha căng chú kiết nào tới hết. Khi đ́a cạn th́ kẻ xách nơm người vác chĩa tới đ̣i chia phần. Đă vậy c̣n muốn ngồi trên đầu trên cổ ḿnh. Nói xong, chụp cái công văn ṿ nát quăng vô xó rồi đứng dậy đi.

Tỷ Cà Lăm cũng hầm hầm đi theo Hai Phải. Romand hỏi Hồng Minh Quang :

- Anh tính sao ?

- Tôi chưa tính ǵ hết. Để hạ đồn Cầu Mống xong rồi sẽ hay.

- H́nh như mấy «ông nội» nầy là Bắc Kỳ, Romand lầu bầu.

- Sao « toa» biết, Hồng Minh Quang hỏi.

- Chữ đánh máy là thống nhất, toa không thấy sao ? Hễ nói thống nhất, Tân sơn Nhất là Bắc Kỳ, chớ ai trồng khoai đất nầy. Phải nói và viết thống nhứt, Tân sơn Nhứt, hiểu chưa?

Cà hai ngồi im, Tư Diêu đi ngang hỏi :

- Cái ǵ mà hai ông sần sượng như vậy ?

- Cũng v́ cái nhất với cái nhứt, Romand thuật lại cái công văn.

Tư Diêu cười :

- Thống nhất hay thống nhức th́ cũng vậy thôi. Miễn làm sao cái cây Cầu Mống kia bay th́ thống ǵ cũng được. Hơi nào ở đó căi danh từ.

- Hồi đánh Tây giựt từng cây súng sao không đến đây phụ tiếp, bây giờ mới có được chút ít th́ muốn nhảy vô làm cha. Ai chịu được ? Năm Hà cũng chêm vô một câu như chế thêm dầu.

*  *  *

Người chiến sĩ gác chạy ra bảo Trí và Chim :

-Đồng chí chỉ huy trưởng mặt trận hỏi các đồng chí có giấy giới thiệu ṭng quân của xă không ?

Trí trả lời :

- Chúng tôi không có giấy ǵ hết

- Vậy xin đồng chí về lấy giấy giới thiệu đem tới đây th́ chúng tôi mới nhận.

Trí đă từng nghe hai tiếng đồng chí nhưng lần nầy nghe thấm thía vô cùng và oai oai thế nào ấy ! Trí đáp :

- Chú tôi là bạn học của ban chỉ huy phân đội Phạm Hồng Thái mà !

Người chiến sĩ nói :

- Đây không phải là phân đội Phạm Hồng Thái.

Trí lựng khựng một phút rồi nói :

- Dượng Tư tôi cũng đi bộ đội. Tôi và anh nầy đều tham gia đánh bót Cầu Mống, c̣n bộ đội vừa đóng ở nhà tôi.

- Tôi biết rồi, nhưng không có giấy tờ hoặc ai quen nh́n nhận các đồng chí nên chúng tôi không thâu vô được.

Bỗng có tiếng nói từ trong đồn vọng ra :

- Đâu cho họ vô xem !

Trí mừng húm, kéo tay Chim bước qua mặt người chiến sĩ. Trước mắt Trí, một người thanh niên tuấn tú, mang kiếng trắng đứng ở bậc thềm. Bỗng Trí kêu to :

- Anh Tư !

Người thanh niên bước xuống : Em là ai ?

- Em là cháu của cậu Bảy em nè !

- Cậu Bảy nào ?

- Dạ cậu Bảy em học trường Esipic của anh ở góc giếng nước. Lần đó cậu chín Bê đem xe chở về Giồng Luông xem nhà của cẩu, em có đi ké nữa.

- Cậu Chín Bê nào ?

-Dạ cậu Út con ông Phủ Kiểng ở Giồng Luông!

Người thanh niên đứng im một hồi như lục lạo những kỷ niệm bị mờ đi v́ khói lửa. Rồi gật đầu :

- Nguyễn Duy Hưng và Nguyễn Duy Tiên học trường Esipic. Hai người họ Nguyễn đó có bà con không ?

- Dạ không, chỉ là bạn học.

- C̣n em ?

- Dạ em học Institution Trung Châu. Buổi sáng nào em cũng nh́n anh dắt đoàn lực sĩ chạy lên Stade.

- Đúng rồi, em làm ǵ ở đây ?

- Dạ….

- Thôi được, vô đây, anh Tư vẫy tay.

Trí và Chim theo vào. Anh Tư nói :

- Trung Châu tôi cũng có quen. Anh Tư cười đôi mắt lấp lánh sau cặp kiếng trắng : Té ra quen hết. Anh dạy trường nhà nước của ông Ca Văn Thỉnh.

- Hồi cướp chánh quyền, anh ở đâu anh Tư ?

- Anh ở lại cho đến lúc Ủy ban rút ra khỏi tỉnh lỵ, Ủy ban giao cho anh một số giáo chức giữ mặt trận Ba Lai, cửa ngỏ vô tỉnh ḿnh.Em muốn đi bộ đội hả ? Được rồi, ở lại đây với anh.

- Dạ…anh Chim đi thôi, c̣n em bà nội em chưa cho đi !

Anh Tư nh́n Trí rồi gật đầu :

- Chắc em chưa đủ tuổi, thôi ở nhà, năm tới hăy đi. Kháng chiến c̣n dài !

Tí không vui v́ bị từ chối, nhưng đó là sự thực.Trí chưa đủ sức vác súng nịt bao đạn, chưa kể lúc bộ đội hành quân cấp tốc .

Anh tư hỏi :

- Sao đây là rạch Tân Hương mà lại gọi là Vàm Mương Choại.

- Dạ em không rành, chỉ biết là rạch Tân Hương chảy cắt ngang cù lao Minh. Đầu nầy đổ ra sông Cổ Chiên, gọi là Vàm Mương Choại, đầu kia đổ ra sông Hàm Luông gọi là Vàm Tân Hương ngó qua Vàm Cái Mít.

Nghe tới hai tiếng Cái Mít, anh Tư ngậm ngùi :

-Hai Phải hi sinh sớm quá. Tỉnh nhà cần những anh hùng như vậy. Nếu có thêm một phân đội th́ mặt trận Ba Lai c̣n giữ được lâu hơn nhiều. Rồi như gặp tri âm, anh Tư kể tiếp : Lúc chuẩn bị rút đi, anh Đỗ Phát Quan, Ủy viên quân sự tỉnh giao cho anh chỉ huy một đội cảm tử gồm công chức học sinh trấn giữ mặt trận Ba Lai, em biết cây cầu đó chớ ?

- Dạ biết, cây cầu cao nhứt là Cầu Mống c̣n dài nhưt là cầu Ba Lai cách bến bắc Rạch Miễu 4 cây số, nằm trong làng Tân Thạch đó mà !

Anh Tư tiếp :

- Anh làm chỉ huy trưởng th́ dạy học, c̣n ông chỉ huy phó Đỗ Quang Thời là nông dân. Không ai học trường quân sự nào cả, nhưng ḷng yêu nước dạy ḿnh tất cả. Súng ống chỉ được 8 cây mút lấy của Pháp, 10 cây ca líp 24 và 4 khẩu hai ḷng của quan làng đem nạp. Chỉ bấy nhiêu lực lượng mà phải chống trả tụi Pháp từ MỹTho sang. Anh bèn cho gỡ hết ván cầu, chỉ c̣n cái sườn sắt, xe cộ và người đi bộ không qua lại được. Sau đó mới đấp mô ở hai đầu và đào pḥng tuyền hai bên hông hễ giặc tới là bắn xéo ra cầu.

- Công việc vừa xong th́ có tin quân Pháp tới. Lập tức phân đội giàn ra ứng chiến xong th́ ông ủy viên quân sự tỉnh cũng vừa đến. Ông đi kiểm tra mặt trận khắp tỉnh, nhưng đến đây lâm trận nên ông ở lại tham gia luôn.

Phân đội chia làm 2 cánh, đội Thông chỉ huy cánh trái, đội Đề cánh phải, c̣n ông uỷ viên quân sự và anh chỉ huy chung. Độ 15 phút sau th́ quân Pháp đến đầu cầu phía Rạch Miễu. V́ cầu không c̣n ván nên chúng không chạy qua được. Chúng dừng lại và cho một loại máy, không biết là máy ǵ nổ thật to như súng bắn, một chập chúng cho lính qua cầu. Chờ chúng đến giữa cầu, ông ủy viên quân sự cho nổ súng, một số rớt xuống sông c̣n một số liều mạng ḅ qua được bên nầy.

Đơn vị diệt được một số rồi theo lịnh ông ủy viên quân sự rút lui để bảo toàn lực lượng. Quân Pháp cũng không dám tiến xa hơn, chứng ở đây một lúc rồi trở về MỹTho. Đơn vị rút qua Cái Mơn rồi xuống đây giữ mặt trận Vàm Choại nầy.

Trí mải mê nghe anh Tư kể. Anh vừa dứt lời, Trí nói :

- Anh Tư ở lại đây luôn đi anh Tư, em sẽ đưa cậu Bảy em đến thăm anh.

Vừa tới đó th́ người chiến sĩ gác chạy vào báo cáo :

- Thưa chỉ huy trưởng, có ghe chở khẳm trên sông Cổ Chiên mũi hướng về đồn. Ngoài ra cũng có một ghe từ Trà Vinh cũng đâm thẳng vô đây.

Anh Tư đứng dậy móc sợi nhợ trong túi áo buộc gọng kiếng sau ót, lấy ống ḍm bước ra ngoài và ra lịnh :

- Chiến sĩ xuống chiến hào.

Trí nghe hai tiếng chiến hào th́ thích thú lắm. Thừa lịnh anh Tư, Trí và Chim cũng chạy theo chiến sĩ ra chiến hào nh́n«địch» tới.

Thấy ghe đâm sát vào bờ, anh Tư quát : Chuẩn bị chiến đấu !

Cơ bẩm súng lùa đạn lên ḷng rốp rốp nghe thiệt vui tai. Bỗng Trí tḥ đầu lên khỏi chiến hào nói :

- Em có cây mi trai dết, anh Tư !

- Ở đâu em có ?

- Dạ thanh niên trong xóm giật của thằng đội xếp đồn rồi ảnh sợ quá trốn mất. Ảnh giao cho anh Chim. Anh Chim không dám mang theo. Để em về đem vô cho anh.

Vừa đến đó có tiếng quát :

- Ghe ghé lại !

Súng chĩa ra, chiếc ghe tấp vào bờ.

- Giơ tay lên !

Một người ở mũi ghe đứng bật dậy :

- Ghé th́ ghé nhưng giơ tay th́ không. Hề hề…Thấy cờ đỏ cắm trên nóc đồn mừng hết lớn, không kêu cũng ghé, c̣n cái vụ giơ tay xin miễn nghe các cha ! Người kia nhảy lên bờ và tía lia : Chào, xin chào các đồng chí, rồi gục đầu vào vai anh Tư khóc hu hu.

Những người khác ở dưới ghe cũng lụt tụt bước lên bờ.

Anh Tư hỏi :

- Các đồng chí ở đâu tới ?

- Tôi xin tự giới thiệu là Thanh Phong, Trưởng Ty tuyên truyền tỉnh Trần Hữu Độ [chú thích của NKLT : tỉnh Trà Vinh vửa được đổi tên bởi Ủy Ban Kháng chiến Nam Bộ ]. Ḱa đồng chí xem kèn, đờn , đề co sân khấu chất một ghe đó, th́ biết nghề ǵ rồi. Tụi tôi đang đi Ba Động th́ Tây xuống TraVinh chiếm mất tỉnh lỵ, tụi tôi không về được nên phải tạt qua đây kiếm chỗ ở nhờ, được không ?

- Được rồi, lên đây nghỉ rồi sẽ tính.

Thanh Phong ḿnh mẫy ướt mem như mèo té giếng vừa đi vừa rủ nước, than thở :

- Sóng to quá, may chút nữa lật ghe! Sao bên nầy t́nh h́nh có khá không ?

Anh Tư đi vô đồn, cởi súng, giở ca-lô ra, hai người ngồi tâm sự. Anh Tư nói :

- Mặt trận chính bên nầy cũng bể rồi. Tụi Tây cũng đă chiếm tỉnh lỵ, ông đốc Thỉnh bất hợp tác đă đem cả gia đ́nh ra khu. Tụi tôi đang ở tỉnh chỉ huy đội« Giáo chức tự vệ» th́ được lịnh rút qua sông Hàm Luông giàn mặt trận đón ngang cầu Ba Lai, chỉ được mấy hôm tụi nó chiếm tỉnh lỵ, tràn xuống các quận Sóc Sải và mỏ Cày. Tôi đánh một trận giết được chục tên, trong đó có hai tên Pháp. Rồi rút quân qua Cái Mơn, tụi nó truy kích, tôi lui vê đây trụ lại.

Thanh Phong nói :

- Tụi tôi chuyên môn « núp bóng tùng quân», chỗ nào bộ đội mần ăn xong th́ đến « la ó». Bây giờ tụi tôi thả rề vô đó được không ?

- Được lắm ! Vô chợ Cầu Mống hát chắc sẽ đậu giàn.

- Nhưng sau khi văn hát trở về Trà Vinh không được, rồi ăn ở đâu ?

Trí vọt miệng nói :

- Nhà ông nội và ông Mười tôi bộ đội vừa rút, rộng lắm. Chú tôi dạy học bên Càng Long mới về nghỉ ở nhà. Nhiều cơ quan mời quá, chú chưa biết đi đâu.

- Chưa đi đâu th́ qua TràVinh với anh nè!

- Nhà em ở gần đây không ?

- Dạ gần.

Anh Tư xua tay :

- Ê, ê, mới qua ở đậu mà đă định « bắt lính » của người ta sao đó ? Rồi trỏ Chim, anh nói : hai cậu này là lính mới của tôi.

- Thôi mà ông chỉ huy, nay mai ông bể cái mặt trận Mương «chạy» nầy qua bên đó tôi nuôi cơm lại th́ huề. C̣n lính, muón bắt bao nhiêu cũng được.

Xảy có một đoàn khách lạ tới. Không chần chờ, một người đội nón nỉ rộng vành, bóp ba mũi kiểu hướng đạo, tự giới thiệu :

- Tôi là Khu bộ trưởng Khu 8, Trương Văn Giàu tục gọi là Ba Giàu, đến đây để bàn về việc củng cố các mặt trận trong tỉnh. Đây là Trung úy Lê Văn Tỵ, xưa gọi là Ách Tỵ, cháu rể ông hội đồng Nhơn. (chú thích : sau về thành, làm Thiếu Tướng Tham mưu trưởng dưới thời Ngô Đ́nh Diệm)

Ách Tỵ nói ngay :

- Các bạn khỏi phải lo. Điền đất chung quanh Vàm Đồn nầy là của cậu vợ tôi hết. Lúa của ổng, nuôi bộ đội ăn mấy chục năm cũng dư. Chỉ lo t́m ba cây súng thôi ! Tôi có thể vận động được chừng 50 cây, sợ chưa có tay cầm.

Ba Giàu nói : Hễ có súng th́ có người cầm, anh đừng có lo.

- Ở đây cần mấy cây ?

Anh Tư nói : Cho mấy cây, chúng tôi nhận mấy cây. Cho đứt càng tốt, cho mượn cũng được. Súng cũ trả súng mới !

Hai người bàn chuyện với anh Tư một lúc rồi cả đoàn kéo đi. Thanh Phong quay lại câu chuyện bỏ dở với Trí lúc năy. Chú em là ai ?

- Dạ là Bùi Trang Ḥa, dạy học ở Càng Long.

- Vậy là đồng nghiệp với qua rồi. Qua cũng dạy ở gần đó !

Anh Tư nói ngay :

- Ngó sơ qua, đám gỏ đầu trẻ của ḿnh đi kháng chiến bộn. Đi đầu là ông đốc Thỉnh, kéo theo là mấy ông giáo Ngọc, giáo Hữu, tôi và mấy đồng nghiệp nữa. Bị chê là trói gà không chặt nhưng tụi tôi đánh trận Ba Lai bảnh lắm. Tụi Tây không dám vô Bến Tre.

Thanh Phong nói :

- Bây giờ có thêm hai ông « trói gà» nữa là tôi và Bùi Trang Ḥa. rậm đám rồi.Và c̣n một ông đi Tây mới đút đầu về đang ở Bàng Đa, gặp tôi kéo theo gánh hát của tôi luôn .

- Ai vậy, lôi lên cho tôi coi mặt ông «Tây ăn mắm sống » chút, anh Tư khom xuống nh́n thấu vô trong mui ghe.

- Anh ta đang nằm trong ghe sáng tác nhạc.

- Sáng tối ǵ cũng đem lên đây hát thử nghe coi !

Thanh Phong liền gọi :

- Bạn ơi ! Sơn ơi lên đây có tri âm nè !

Một người gầy gầy đứng lên, đôi mắt tinh anh chói rực giữa khuôn mặt vuông sắc sảo . Thanh Phong vỗ vỗ trên vai họ Tạ tên Thanh Sơn.

- Xin giới thiệu ông « Tây ăn mắm sống » đang làm bài hát Nam Bộ kháng chiến. Xong chưa bạn ?

- Vừa xong câu chót. Có nhiều chữ chưa ổn c̣n phải sửa.

- Hát cho anh Tư nghe rồi ảnh tiếp tay với !

Sơn cầm tờ giáy bèo nhèo vừa nh́n vừa hát với giọng hùng hồn :

Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.

Rền khắp trời lời hoan hô, dân quân Nam nhịp chân tiến đến trận tiền.

Thuốc súng kém, chân đi không mà ḷng người giàu ḷng v́ nước

Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng

Cờ thắm phất phơ ngang trời sao vàng xao xuyến khắp nơi bưng biền

Muôn ḷng nguyện với tổ tiên

Thề quyết giết quân xâm lăng

Ta đem thân ta liều cho nước

Ta đem thân ta đền ơn trước

Muôn thu sau lưu tiếng anh hào

Người dân Việt lắm chí cao.

Mọi người vỗ tay khen. Trí rút harmonica, vật bất ly thân, trong túi ra rồi nói :

- Anh đưa bài nhạc để em đi theo với.

- Ở đâu sẵn có vậy, anh Tư hỏi.

- Dạ em đang dạy bộ đội Bác Hai bài Tiến quân ca  th́ kéo đi đánh đồn, nên em bỏ túi cây kèn định bụng hễ gặp bộ đội th́ dạy.

Thanh Phong nói : Vậy để tôi kêu đem cây ghi ta lên ḥa luôn!

Nhưng Sơn bảo : Ghi ta, măng đô bị tạt nước mặn tróc keo lỏng phiếm hết rồi. Thôi để harmonica solo cũng được. nào 2…3… Mùa thu rồi….

Thanh Phong giơ tay chận lại :

- Sẵn có bộ đội đây, dạy cho anh em hát luôn !

Đúng nghề của Trí, chàng vô đề ngay. Anh Tư cho tập hợp đơn vị ngay trên mô chiến hào để Trí dạy hát. Lần đầu tiên Chim được đứng trong quân hàng và hát. Chim hát chính tiếng ḷng của ḿnh. Chim đă đáp lời sông núi.

Sông Cổ Chiên mênh mông, nước từ trên nguồn đổ xuống ào ào. Ḍng nước nầy là  mồ chôn biết bao nhiêu tên giặc.

Trích: Xuân Vũ. Dấu Chân xuôi ngược (Chương 18)