ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN

(Hồi ký vượt Trường Sơn)

(Phần chót)

 

Xuân Vũ

 

………

Sáng hôm đó, chúng tôi bị một trận bom tơi bời. Vừa chết, vừa bị thương hai mươi mạng. Cuộc sống ở bờ sông nầy vốn đã phức tạp càng trở nên bi đát hơn sau trận bom. Có người cháy trụi tài sản, có người mất đầu, có cánh tay văng mắc trên cành cây. Nhốn nháo, khóc lóc, chửi bới, văng tục, trot han, máu me, quát tháo, xác chết…

Những cặp mắt dáo dác, những gương mặt lầm lì, những gò má sị ra, những bàn tay khô gầy, những dạ dày ọc ạch nước suối….

Có lẽ Khanh đã quá quen chịu cái cảnh nầy cho nên Khanh cứ bình tĩnh như thường. Khanh ra lịnh cho tất cả chiều nay sẽ vượt sông ở một quãng cạn có thể lội qua được, như vậy không cần đến bè mãng và thuyền. Trạm của Khanh chỉ có một cái thuyền độc mộc bể nát.

Tôi gặp cái anh chàng y tá Nam bộ bị phân công về khu Năm ỏ đây trong lúc sắp sửa lội qua sông. Anh ta tự giới thiệu tên là Năm, và an hem tặng cho biệt hiệu là Cà Dom (một loại ghe làm bằng thân cây cổ thụ) vì hồi ở tiểu đoàn 307, có lần Năm một tay cầm ba khẩu súng trường giơ lên và lội xốc đứng qua sông. Năm Cà Dom ngồi tâm sự với tôi. Mở đầu, Năm Cà Dom đã chửi đổng lên ngay :

- Tổ chức cái con…chớ tổ chức. Người ta quê ở Hóc Môn nó lại phân công về Khu năm. Lặng im đi mà thôi, cãi lại nó cho đi Lào. Tôi nói thiệt với anh, thằng nào đi vô đây cũng bất mãn một bụng. Rồi Năm Cà Dom dịu giọng ngay :

- Thế là thoát anh ạ ! Tôi nói thiệt tôi về tới quê tôi kỳ nầy tôi nuôi ngựa đua. Chao ôi. Tôi vô tới đây tôi mừng hết lớn. Qua con sông ôn dịch nầy nữa là a lê quất ngựa chuối một « Tăng » là tới nơi. Tôi hỏi thật người anh em nhé : Sống mười mấy năm trên đất Bắc, người an hem có cảm tưởng gì khi qua khỏi cây cầu treo ở ngọn Bến Hải ?

Tôi cười. Năm Cà Dom nói tiếp :

- Tôi nói thật, tôi lột nón xá dài, tôi vái cả mũ !

Năm cà Dom cười khắc khắc và vỗ đùi tôi, có vẻ đắc chí vì đã qua mặt được các trạm mà lọt vô tới đây.

Tôi chợt nhớ đến câu chuyện lúc sáng, tôi hỏi :

- Cậu có biết cái đoàn nào đó định mổ ruột dư cho thằng nào bằng lưỡi lam không ?

- Biết chớ ! Nhưng mà làm thế nào. Ở đây không có cái gì bình thường nữa hết ! Để vậy thì chết, mổ đại may ra khỏi chết. Cũng như tôi, như anh vậy !

- Tôi có đau ruột dư đâu !

Năm Cà Dom cười :

- Chúng mình đau « ruột thiếu » khè khè…Tôi nói như vậy là nếu mình ở ngoài Bắc thì chắc chắn chết, còn về Nam thì có thể chết nhưng may ra còn sống. Thế đó ! Chúng mình đi trên con đường nầy thí cũng như thằng kia mà mình giải phẩu bằng lưỡi lam vậy thôi ! May ra thì sống.

Bỗng nghe tiếng la quát loạn xạ ở phía bộ đội tập hợp :

- Bắn bỏ, bắt được bắn bỏ !

- Thằng nào quay đó ?

- Năm sáu thằng !

- Cho truy lùng ngay, lôi về đây cho tôi.

Năm Cà Dom cười mũi : Lùng con mẹ gì, không khéo mất cả chì lẫn chài nữa bây giờ ! Năm Cà Dom tiếp :

-Ta đã bảo ở chỗ nầy thế nào tụi nó cũng quay dữ lắm mà ! Con sông nầy chẳng khác nào cái Bến Hải thứ hai. Nó không chịu đi mà bắt ép mãi thì nó phải chuồn. Ở ngoải, nghe bài ca và ngâm thơ trên đài, thằng nào cũng tưởng bở, cắt tay lấy máu « hú..yết » tâm thư xin đi Nam, bốc tếu tới trời. Ai dè mới vô có ba trạm đã bắt đầu thấy « bê quay » lai rai rồi. Càng vô Nam càng quay tợn. Chúng nó biết hễ vượt qua con sông nầy là khó bê quay.

Tôi đã biết Thu đang khó ở, nhưng biết làm sao, đã đi là phải đi bất kể trời đất, bất kể bịnh tật. Chưa học xong chương trình múa ba-lê, Thu đã xung phong đăng ký vào Nam biểu diễn cho đồng bào Saigon xem, bởi trước khi ra đi, ông chủ nhiệm Ủy ban Thống Nhất, Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh bảo rằng  về đến nơi sẽ có chính phủ liên hiệp, đồng bào đón tiếp.  Tôi hỏi Thu :

- Em biết lội không ?

- Biết

- Thế thì hay quá !, tôi reo lên. Trông người ta lội qua thì thấy có chỗ ngập đầu đấy em ạ!

- Ấy chết, ngập đầu thì làm sao mà lội. Phải bơi chớ ! Em chẳng biết bơi đâu !

Trời mới vừa nhá nhem. Cát trên bãi sông trắng lên một màu sa mạc hoang dại. Mặc dầu những đoàn người đang chạy làm cho bụi bốc lên mù mịt, tôi vẫn cảm thấy một sự man rợ của những nơi không có dấu chân người.

Rè rè…rè, có tiếng máy bay ở phía dưới dòng. Pập, pập, pập. Không gian lòe lên ánh chớp. Những đớm sáng tròn nhoáng lên tủa ra những cụm pháo bông nhỏ, rồi vụt sáng lên, xé rách cả một vùng trời. Ánh sáng lan đến chỗ tôi và Thu đứng. Chiếc máy bay cứ bay, vẽ thành vòng tròn quanh những trái pháo sáng. Cứ chốc chốc lại pập pập, pháo sáng lại phụt ra, chẳng mấy chốc mả những chấm đỏ đầy cả một vùng trời như những chùm ớt chín cây. Quát tháo ầm ĩ :

- Qua nhanh đi !

- Nhanh thế nào được…hự, rầm.

- Cứ đi, nó không thấy đâu !

- Nhanh lên, nó tới đấy !

Nước tung lên trắng xóa từng nơi. Bước chân lội ầm ầm hỗn độn. Người ngã. Súng rơi trên đá. Lại trườn dậy, lại chạy, lại sụp xuống hố, lại ngã. Nước vẫn chảy ào ào. Tôi dìu Thu đi trong cái đám người đang đạp bừa lên nhau qua mặt nhau. Tôi tự bảo : Không thể cuống lên được. Sự bình tĩnh lúc nầy rất cần thiết.

- Cứ đi chậm chậm em ! Có anh đây đừng sợ !

Có lẽ Thu chưa trông thấy cái cảnh qua sông như thế bao giờ. Trông như một cuộc chạy loạn. Thu vẫn cứ dò từng bước, đó là kinh nghiệm đã học được trong những lần qua suối.

Một người xỏ chân vào kẹt đá kêu cứu. Một người đổ ầm xuống, nước bắn vào người Thu. Một người đang lom khom mò chiếc dép sứt bị một người khác cởi bừa lên lưng, hai người cùng ngã, chửi nhau ầm ĩ. Càng đi ra xa, sông càng sâu. Nước đã ngấm tới đùi. Tôi xót xa nhìn Thu qua ánh pháo sáng. Nét mặt Thu tái nhợt. Tay Thu như không nhắc gậy lên được nữa.

- Cố gắng lên em. Tôi bám chặt cánh tay Thu.

Nước sắp ngấm đến lưng. Hai người khiêng  cây súng gì có vẻ nặng nề . Họ bước rất chậm. Họ thở hổn hển. Bỗng «ầm » người đi sau sụp ngã, người đi trước ngã theo. Hai người đi phía sau, có vẻ cùng một tổ, nhảy tới. Một người rên :

- Nắm chắc kẻo rớt súng !

Một tiếng hét : Đi về phía nầy cạn.

Tôi nhìn về phía có tiếng kêu, ở đó nước chỉ quá đầu gối. Tôi bảo Thu :

- Đi về phía đó em !

Đến bờ, Thu ngồi phệt xuống. Tôi xốc lấy chiếc ba lô trên lưng Thu và nắm lấy tay Thu đứng dậy.

Những tốp người qua khỏi sông bắt đầu chạy như gió. Bãi sông bên nầy rộng mênh mông. Cát bốc lên như sa mù ác mộng. Bước dẫm lên hố bom và mảnh đạn. Thu không thể nhắc chân nhanh được, Thu ngã đầu vào vai tôi. Tôi ôm quàng sau lưng Thu. Thu kêu : Em đau bụng quá !

Cây hai bên đường cháy trụi hết  lá. Từng cành in trên nền trời như những bộ xương trong cõi hư vô. Người ta vẫn chạy hồng hộc. Ở phía sau tôi, chiếc máy bay vẫn rè rè lượn vòng và pập pập pập. Tôi định ngồi lại nhưng có tiếng quát :

- Ngồi đây máy bay bắn chết !

Thu cố đứng dậy tựa hẳn vào tôi và thều thào :

- Em có…kinh !

Tôi rùng mình. Thu òa lên khóc : Để em ở lại đây thôi anh ạ !

Tôi bảo : Mặc kệ, Thu cứ đi chầm chậm, và tôi lôi Thu đi trong sự bát nháo hỗn độn đó.

Thu lê chân theo tôi. Mỗi một bước đi Thu lại khóc, Thu dùng dằng không chịu đi. Rồi thu ngồi phệt xuống như một cái bao cát rơi đánh phịch. Tôi ngó quanh quất để tìm một người quen. Nhưng ai mà nhận là quen với chúng tôi trong lúc nầy. Thôi cũng mặc, đành phó cho Trời.

Tôi lục ba lô lấy võng mắc lên cho Thu nằm. Cái võng mắc vào hai  cây đã bị thuốc độc làm rụng hết lá đứng trơ xương ra. Ở đây là khu tử địa. Máy bay rải chất độc làm thành vòng đai trắng để kiểm soát người vượt sông. Ở đây là vùng ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng. Những trái hỏa châu soi sáng mặt người lan tới đây. Đi quá về phía Nam là sụp vào trong vũng tối. Tôi ngồi bên võng Thu mà nhìn những người  ướt lóp ngóp, ì ạch đi qua, mình mẫy ướt dầm, hình thù ký quái chẳng khác một lũ âm binh từ cõi dưới hiện về.

Bỗng tôi nghe tiếng quát :

- Trở lại, trở lại mau !

Một tiếng trả lời yếu ớt :

- Tôi đi múc nước !

- Múc nước cái con mẹ mi. Mi định quay hả ? Trở lên không tao bắn.

Tôi nghe tiếng cơ bẩm khua lách cách. Mấy cái bóng quay trở lên, dáng đi thất thểu.

Tôi liều mình ở lại nơi ranh giới của ánh sáng và bóng tối là mục tiêu của xạ kích của máy bay cho đến sáng hôm sau. Tôi thấy Thu trở thành một người khác. Bụi bám trên tóc làm cho tóc nàng xám màu tro, quần áo dầy cộm, mốc thếch. Da mặt khô như sấy. Qua một đêm vượt sông, con sông trên mặt đất và con sông trong tâm tư, nàng già đi mười tuổi.  Tôi hỏi :

- Em vẫn…còn…?

- Còn hai ngày nữa mới dứt anh ạ !

Tôi nhìn hai bắp chân nàng. Máu còn dính đầy (xin lỗi độc giả)

- Để em băng lại rồi sẽ đi anh ạ ! Qua khỏi khu tử địa nầy rồi hãy hay, Thu gắng gượng nói.

Chặp sau chúng tôi lại lên đường. Nhiều người bị rớt lại sau đoàn bây giờ cũng lếch thếch bò theo. Một bộ phận pháo nặng đang đi trước chúng tôi. Họ xoay trần ra khiêng một cái nòng pháo giắt lá um tùm. Cái đòn dài oằn xuống và dây nghiến kĩu kịt như sắp đứt ra. Hai người một đầu. Những tấm lưng gầy gò cong quắp  xuống và ngọn đòn khuyết sâu xuống vai họ, tưởng chừng đến một phút giây nào đó có thể chẻ rời cái vai ra khỏi thân người. Những bắp thịt nuộc lưng gồng lên như như cố giữ cho chiếc xương sống uốn éo khỏi gảy cụp xuống trong khi những chiếc xương sườn cứ uốn cong như lúc nào cũng có thể bung ra. Càng đi, tôi thấy rừng càng lúc càng sâu càng dầy, núi càng ngày càng hiểm trở, những nòng súng thì như càng ngày càng to ra, và những con người càng ngày càng bé lại, khô lại, tóp lại, không phải tưởng tượng mà thực sự trông thấy. Tôi trỏ cho Thu những bắp chân đang loăn quăng bước trước mặt chúng tôi. Tôi nói :

- Những cây cọc mùng biết đi chớ còn gì nữa !

Thu nhếch môi cười miễn cưởng :

- Coi chừng mất lập trường !

 Đường ác quá. Không có quãng nào thẳng được năm chục thước. Không có chỗ nào bằng phẳng. Cái nòng pháo cứ chạm vào vách đá ở những khúc quanh gắt. Những người khiêng, chân vừa bước, tay vừa bám vào vách đá, đi những bước khúc mắc, tréo chân nghịch tay, ẹo xương sống, thành thử một bước trên đường nầy bằng ngàn bước trên đường thường. Vì thế, bịnh như tôi và Thu mà vẫn có thể đuổi kịp họ và vượt họ. Dọc đường, nhiều người ốm quá, họ ngồi trên những hòn đá. Tôi chẳng dám nhìn, bởi lẽ càng nhìn càng trông rõ tôi hơn.

Thu kêu mệt. Chúng tôi dừng lại bên cạnh một anh lính đang ngồi. Trời ơi, cái mặt anh ta sần sùi như một quả na sắp nứt ra. Anh lính tố khổ với tôi ngay :

- Em đói quá. Bị bom cháy hết rồi. Em xin anh tí muối. Em ở pháo binh khiêng pháo ngã bị pháo đè gãy một cái ba sườn. Bây giờ yếu quá, em xin qua bộ binh nhưng cấp chỉ huy bào em mất tinh thần nên không cho.

Tôi không còn cách nào từ chối. Lần trước tôi không cho anh binh sĩ khúc mì bây giờ tôi còn ân hận. Cho nên lần nầy tôi cho cậu ta tí muối trắng, có thể đếm được bao nhiêu hột.

Không biết anh lính đã bắt được con rắn mối và đã xơi hồi nào, chỉ còn lại cái đuôi. Anh ta ngữa bàn tay ra nhận mấy hột muối của tôi, móc túi lấy ra cái đuôi con rắn mối và chấm ăn. Anh ta nhai rau ráu. Anh ta nói :

- Không có muối tanh quá ăn vô cứ buồn nôn. Nhờ có muối của anh, em thấy khỏe lại ngay. Anh ta sè bàn tay đưa lên miệng liếm nốt những hột muối còn lại rồi nói tiếp :

Gớm, đơn vị em bị một cú biệt kích tơi bời. Mất nòng pháo 120. Em suýt chết. Đồ đạc mất hết. Đơn vị tan tác mà không lãnh được gạo. Em toàn bắt cua, bắt nhái, nấu với rau giềnh chấm với tro thay muối. Ăn tro mãi, da cứ đen sịt ra, yếu như bún, ngã xuống không đứng dậy nổi. Nhiều đứa ăn da bò nướng với rau giềnh sống chấm tro bị kiết lỵ cứ chảy re re không mặc quần được  ! Anh binh sĩ ăn xong cái đuôi rắn mối chép chép miệng như còn thòm thèm : muối tan trong máu em rồi đấy. Nầy anh ! Em nghe nói ai bệnh được đưa về Bắc trở lại có không anh ?

- Ai biết được điều đó !

Tôi và Thu không ai bảo ai nhưng muốn đứng dậy đi như lủi trốn cái hình hài nầy. Nhưng anh ta lại kể tiếp :

- Đơn vị em có một đứa tự vận anh ạ. Cậu ta tên Ngạc, quê ở Hà Đông. Cậu ta yếu không đi nổi, nhưng ông đại đội trưởng bắt phải đi. Cậu ta năn nỉ an hem :« Các cậu khiêng tớ đi, tớ gọi các cậu bằng bố» Nhưng đi còn không nổi, sức đâu mà khiêng. Một bữa trưa, ông đại đội trưởng đi kiểm tra đơn vị, tay cầm một củ mây. Gặp cái gì không như ý là ông ta quất lia lịa. Đến chỗ võng của Ngạc, ông ta hỏi :

- Cậu nào nằm đây ?

- Dạ em, Ngạc đáp.

- À, Ngạc hả ? Cậu đã bắn vào ngón tay trỏ hôm ở Trạm 3 phải không ?

Ngạc không đáp lại, ông ta hỏi tiếp :

- Tại sao lại nằm, không chuẩn bị hành quân ?

- Dạ em sốt quá !

- Tại sao sốt ? Muốn quay hả ?

Thế là ông ta quất lia lịa, rồi ông ta giật luôn dây võng, Ngạc rơi xuống đất, ông ta phớt tỉnh bỏ đi.

Anh em chuẩn bị hành quân. Ngạc soạn ba lô lấy bộ đồ mới nhất ra mặc, bộ đồ Đông Xuân mà Ngạc chưa xỏ vô lần nào. Anh em tưởng Ngạc phục thiện, và tự nguyện tiếp tục hành quân, nào ngờ trong lúc an hem loay hoay nấu nướng thì «đoành », Ngạc nằm thẳng trên võng, người mặc quân phục, cây AK để trên ngực và chỉ một viên, từ cằm trổ lên giữa sọ.

Tôi và Thu đứng lên tạm biệt anh lính, như tạm biệt một đau thương đã hóa thành người. Trời ơi ! Sao mà lắm chuyện ghê rợn, oái oăm nghe như chuyện bịa chớ không có thật, vậy mà là sự thật. Chúng tôi đến một chỗ người đùn lại chật ních như nêm.

Anh giao liên nói :

- Sắp đến đoạn đường gay go. Lấy đường thủy làm đường bộ. Các đồng chí chuẩn bị gói ghém đồ đạc. Phụ nữ thì phải cẩn thận, vắt dữ lắm. Đường đi sáu tiếng đồng hồ liền.

Thế là đi. Tôi mới hiểu thế nào là lấy đường thủy làm đường bộ. Nghĩa là tát cả người ngợm trai gái già trẻ Bắc Nam Trung dân quân chánh súng đạn đều trầm dưới nước mà lội, mà bơi, mà trườn, mà lặn. Con đường Trường Sơn vốn là đường kỳ cục và chặng đường nầy chính là cái đinh của sự kỳ cục. Hai bên suối vách đá dựng sừng sững như tường xây, không có một chỗ nào có thể leo trèo đi trên đó được, do đó người ta phải đi trong lòng suối. Mấy hôm trước trời nắng, nước cạn, đi dưới lòng suối không việc gì, nhưng chỉ sau cơn mưa vừa qua, suối to nhanh đến thế !

Hai ven suối người nằm như rạ. Không biết họ nằm từ bao giờ mà thấy nhiều chiếc tăng đã rách và dây tăng thay thế bởi dây rừng. Có người nằm trong hốc đá, có người mắc võng vào các rể cây, có người mắc võng ngang qua một cái hố, nếu đứt võng thì gãy xương sống ngay. Không biết họ đến đây hồi nào và thuộc đơn vị nào. Có người nằm xếp ve như tàu lá, có người không còn cử động, chỉ chờ mối càng đến tha đi nữa thôi. Cố nhiên là họ không lãnh được gạo và khách đi ngang qua đây nhìn họ chỉ chắc lưỡi thương hại rồi cũng đi qua.

Họ không thể đi nổi chặng đường nầy vì họ không thể ngâm mình dưới nước. Mà từ nay sắp tới thì con suối phình lên tràn trề vì những cơn mưa không dứt.

Thu như con mắm sống dầm dưới nước, càng ngày càng tái ra. Tôi bảo Thu :

- Cố gắng lên em. Mình càng đi chậm thì suối càng to, càng nhiều nguy hiểm.

Thu không nói không rằng cứ lê từng bước theo tôi. Nước ngập thường xuyên lên tới ngực, có khi đến cổ, có khi đến mũi, phải ngữa mặt lên mà đi.

Đang lội, tôi bỗng thấy một vật gì lù lù từ trên trôi xuống thật nhanh. Nó lao thẳng vào tôi và Thu. Tôi nhận ra một cây súc to. Nó bị trốc gốc và nước cuốn phăng phăng theo dòng. Tôi quát :

- Tránh Thu, tránh ! Cây đổ.

Thu bường người tới giơ thẳng hait ay ra cầu cứu với tôi. Tôi nắm chặc hai bàn tay và kéo nàng sát bên tôi rồi tôi lôi tuốt nàng vô bờ, cả hai cùng đứng sát vào nhau trên một hòn đá và tựa lưng vào vách đá nhìn ra. Cái cây súc như một con trâu điên thẳng trớn đâm vào một gộp đá ở giữa dòng suối, bứng luôn cái gộp đá nầy tạo nên một tiếng động khủng khiếp. Do cái chướng ngại đó nên thân cây quay ngang, gốc cây đụng vào một bên, ngọn cây gác lên một bờ suối. Thu bưng mặt và kêu « eo ơi» mãi. Tôi hôn lên trán nàng như hôn sự giá lạnh tê buốt. Có lẽ nàng không cảm thấy cái hôn đó của tôi. Mấy cậu lính lội ngang nhìn chúng tôi :

- Cha cha ! Của bạc nghìn mà đem ngâm dưới nước hé !

- Ối giào ôi ! Như thế kia có lên giời xuống đất em cũng xin đi !

Tôi và Thu lại tiếp tục cuộc đi khổ sai. Nước từ trên ngọn chảy xuống càng lúc càng mạnh đập thẳng vào ngực tôi. Cứ sẩy chân một bước là bị nước cuốn đi ngay. Một toán người khiêng một vật gì nặng quá ! Có lẽ bốn anh chàng khiêng cái nòng pháo mà  chúng tôi gặp chiều qua lúc vượt sông. Họ đi thật vất vả, tội nghiệp. Nòng súng bị chìm khuất dưới nước chỉ còn thấy mấy sôi dây căng thẳng với chiếc đòn oằn. Họ nương nhau mà đi từng bước một. Có khi người nầy bước tới mà người kia chưa tìm được chỗ bám chân thì người kia phải dừng lại chờ. Có khi cả mấy phút, bốn người vẫn đứng nguyên một chỗ.

Bỗng một người kêu lên :

- Chết, bỏ mẹ, kẹt chân á…á…ái !

Xỏ chân vô kẹt đá hả ? Rút ra mau!

Nhưng giọt nước đã đạp anh ta ngã xuống và tất cả người kia cũng ngã theo. Ùm…ùm.., nhưng chỉ ba người đứng dậy được còn một anh thì bị nước cuốn trôi đi. Một người lao theo níu lại và lôi vào bờ. Anh ta kêu trời như bọng :

- Gãy mẹ nó ống chân rồi !

- Chết cha, gãy chân à ?

- Tớ không đứng dậy được nữa !

Một người bảo : Báo cáo ban chỉ huy. Toán khiêng pháo bị nạn, cho người thay.

Lôi anh bạn gãy chân vô bờ xong, cả ba lao ra mò cái nòng pháo. Họ lặn dưới nước để kéo cái khối thép đó vô bờ. Cứ mỗi hơi lặn chỉ lôi nó vô được một quãng rồi lại ngóc lên thở phì phì như trâu bị cắt cắt cổ, và cứ mỗi lần ngóc lên, họ vừa vuốc mặt, vừa chửi đổng om sòm :

- Bác Hồ ơi là Bác Hồ ơi !

- Ông đếch lặn nữa, hộc máu ra đằng dít rồi !

Lôi xong cái nòng pháo vô đến mé bờ, họ không còn đủ sức kéo nó lên bờ. Cả ba ngồi thở dốc trong lúc anh bạn gãy chân  rên la  vang dội cả lòng suối: «Ối giời cao đất dày ơi Ối bố mẹ ơi ! Chắc con chết mất bố mẹ ơi »

Một lát sau thấy có một tốp người từ trên kia thả theo nước trôi xuống. Một người trông có vẻ chỉ huy, anh ta quát :

-Cái gì la om vậy hả ? Thằng nào lại bắn vào chân phải không ?

- Báo cáo đồng chí khẩu đội trưởng lòng suối trơn quá, toàn là đá đầu ông sư và rong rêu cho nên chân bị xeo vào kẹt đá.

Anh khẩu đội trưởng nhìn người lính bị gãy chân đang ngồi lê dưới đất. Anh ta hỏi :

- Gãy có nặng lắm không ? Cố gắng đi được không ?

- Báo cáo khẩu đội trưởng chắc em chết. Xin khẩu đội trưởng cho em một viên cho mát thân.

Anh khẩu đội trưởng nhìn ra lòng suối quát :

- Tất cả dừng lại, trở lại đây nghe lệnh tôi !

Những người có kỹ luật quay lại độ 5,6 người. Người nào cũng xanh như mắm và gầy như cây que. Anh khẩu đội trưởng quát :

- Chặt đòn khiêng đồng chí nầy, còn bao nhiêu thay phiên khiêng nòng pháo. Không cãi, không bàn tán. Mau lên !

Tôi thấy tất cả đứng im như đá.

Chặp sau, người ta đã đốn được một cây đòn và soạn ba lô của bệnh nhân lấy ra cái võng buộc vào đòn, rồi bế anh ta đặt lên võng, hai người một đầu khiêng anh thương binh đi. Còn lại cái nợ kia, những người được phân công khiêng nòng pháo vẫn đứng như trời trồng. Anh khẩu đội trưởng quát :

- Lôi nòng pháo lên ! Tiếp tục hành quân !

Mọi người vẫn đứng như chết. Anh khẩu đội trưởng phải chỉ định từng người một. Người nào cũng « vâng » mà mặt nhăn như bị. ĐẾn người thứ tư, anh khẩu đội trưởng hỏi :

- Đồng chí Tửng, bí danh Quyết Thắng phải không ?

- Vâng ạ !

- Thế thì đây là dịp may để biểu hiện cái tên của đồng chí.

- Dạ em không khiêng ạ.

- Ơ …ơ cái gì ? Anh khẩu đội trưởng giật nẩy người như bị ai thoi vào mạng mỡ.

- Dạ em không khiêng được ạ.

- À thế hả ! Tại sao ?

- Em ốm ạ.

- Ốm cũng phải khiêng !

- Em không khiêng nổi ạ !

Anh khẩu đội trưởng tròn xoe đôi mắt và nói gằn từng tiếng một :

- Tôi- lệnh- cho -đồng - chí !

- Tôi - lệnh – cho - khẩu - đội - trưởng !

Pạch, pạch …tát đá túi bụi. Anh khẩu đội trưởng lại tát thêm một cái và nói rất dõng dạc :

- Tôi nhân danh bí thư chi đoàn khai trừ đồng chí Quyết Thắng ra khỏi chi đoàn. Rồi anh ta hỏi : Đồng chí Quyết Thắng có nghe rõ không ?

- Dạ rõ ạ !

- Được rồi, anh khẩu đội trưởng móc súng ngắn giơ lên mổ mổ vào trán của Quyết Thắng. Bây giờ tôi nhân danh khẩu đội trưởng kiêm bí thư chi bộ ra lệnh cho đồng chí khiêng nòng pháo tiếp tục hành quân.

- Tôi ra lệnh lại cho đồng chí ..

- Nghiêm, câm mồm.

- Dạ, vâng ạ !

- Đồng chí bị khai trừ có chống chế gì không ?

- Dạ em nghĩ khẩu đội trưởng làm như thế là khẩu đội trưởng thương em rất nhiều. Từ lâu, em mong chỉ được có thế !

Anh khẩu đ65i trưởng nhảy cỡn lên như đạp phải lửa :

- Đồ láo ! Láo ! Anh ta nắm tóc Quyết Thắng gật mạnh qua lại làm Quyết Thằng lảo đảo rồi anh ta chìa súng vào mang tai Quyết Thắng mà rít lên :

- Mày có chịu đi không, thằng chó !

- Em không đi nổi ạ !

- Tao bắn mày để làm gương.

- Vâng em chi mong có thế cho được mát thân em !

Đoàng !

Tôi cố định thần nhìn cho rõ còn Thu kêu lên một tiếng thất thanh rồi gục mặt vào vai tôi. Nàng vừa run vừa nói : Eo ôi, em hãi quá .

Làn khói bao trùm lấy cái đầu của nạn nhân và nòng súng ngắn tan dần. Tôi thấy Quyết Thắng và anh khẩu đội trưởng vẫn còn đứng nguyên tại chỗ.

Để chữa thẹn, anh khẩu đội trưởng bảo :

- Tao tha cho mày lần thứ nhất, rồi anh hăng hái bảo những người kia : Nào ta đi ! Anh kê vai vào đòn nhưng những người kia cũng noi gương Quyết Thắng.

- Chúng em không đi nổi ạ !

- Ơ kìa, tôi đùa với các anh đấy phỏng ?

- Dạ chúng em đói quá, không có muối, thịt cứ bợt ra, pháo nặng quá mà lại đầm mình dưới nước…

- Ơ kìa, giở cái giọng gì thế hả ?

- Dạ chúng em không dám ạ !

- Tôi bắn chết các anh tôi không ở tù.

- Vâng thủ trưởng không ở tù.

- Đồ láo ! Chát! Chát ! Chát ! Đm chúng mày chống lệnh ông, ông giết !

- Giết cái đầu b…

Ba anh đội viên áp vào đánh viên chỉ huy của họ. Anh khẩu đội trưởng bị ngã xuống dòng suối nhưng tay còn giơ khẩu súng lục lên như đầu một con rắn độc.

Ùm ùm ! Những người đúng trên bờ vác đá ném theo, một anh quơ cây đòn khiêng pháo đập lia lịa. Nước tung trắng xóa chẳng còn thấy gì nữa .

Thu bảo tôi :

- Đi anh. Rồi Thu lôi tôi lội xuống suối trườn tới mà đi một cách hết sức hăng hái. Vừa lội Thu vừa ngoái cổ lại xem và kêu lên từng chập, Thu nói :

- Không có ông Chín ở đây cho ổng huấn từ.

Chúng tôi lội một chốc thì gặp bác sĩ Năm Cà Dom. Anh ta chỉ có cái quần đùi dính da. Ba lô của anh treo lủng lẳng trên cành cây. Anh đứng chống nạnh nhìn dòng nước chảy xiết. Thấy tôi và Thu bè bè đi đến, Năm reo lên :

- A hay quá ! Lên đây nghỉ các bồ. Ngâm nước mãi dọp bẻ chết tươi đấy.

Tôi và Thu leo lên đứng trên một tảng đá. Tôi thấy hơi bối rối vì tôi đang đứng trước một tượng thẩn nữ bằng xác thịt quá ư gần gũi với tôi. Đàng sau những mãnh vải ướt đẫm dán sát vào thân nàng, hiện lên những đường cong hài hòa mà con đường tai ác nầy đã ra sức tàn phá, nhưng nó còn giữ được vẻ đẹp nguyên thủu của một hình khối mà đứng cạnh nó, tất cả đều trở nên thô kệch vụng về.

- Cô đang sốt đấy ! rồi Năm nhìn từ đầu đến Chân Thu. Bỗng Năm trông thấy máu chảy dọc theo bắp chân của Thu, Năm kêu lên :

- Lại làm sao nữa kìa ?

Thu xấu hổ nhìn xuống.

- Cô ấy đang có kinh, tôi đáp thay cho Thu.

- Cha cha cha ! Dã man thật. Thôi ngồi lại đây nghỉ. Lội thế nầy nhiểm trùng, hỏng cả cuộc đời đấy. Lấy võng ra cho cô ta nằm, căng tăng lên. Chết chết ! Sao ẩu thế. Phải tôi biết tôi đâu có cho đi. Ai đời phụ nữ có kinh lại bè dưới suối mà đi như vậy chớ !

Năm Cà Dom nói không hở miệng. Tôi mắc võng, đỡ Thu lên nằm. Mặt nàng tái nhợt, nàng thiếp đi.

Năm Cà Dom bảo :

- Cậu lấy ga-men nấu nước đi, tôi tiêm cho cô ta một mũi thuốc khỏe. Trời lại vần vũ sắp mưa. Mây đen cuồn cuộn trên đầu. Con suối chảy càng lúc càng xiết. Mưa trên đường này là một tai họa. Suối đang dâng lên lại gặp mưa thì càng nguy hiểm.

Tôi bám rể cây chuyền trên những gộp đá đi tìm củi. Nhưng tôi không tìm ra một nhánh củi, mà tôi lại tìm thấy những mãnh đời bị vùi lấp trong sương gió Trường Sơn.

Trên một tảng đá ba khẩu AK dụm lại theo kiểu giá súng tam tam chế ở thao trường, và bên cạnh đó ba cái võng mắc bên nhau. Trên mỗi chiếc võng đều có người nằm, nhưng không thấy ai cử động. Thế là thêm ba oan hồn trên con đường nầy. Tôi lật đật quay trở lại và thuật chuyện đó với Năm.

Năm ngồi lặng giây lâu rồi mới nói :

- Những chuyện như vậy thiếu gì, thôi đừng có nói mất mẹ nó hết tinh thần. Mình cứ ngậm câm mà đi cho tới nơi.

Trời mưa. Chúng tôi ngồi cor o trong lều của Thu mà chờ cơn mưa tạnh để Năm tiêm thuốc cho Thu rồi tiếp tục đi. Rải rác vài người hì hục lội ngang qua chúng tôi, có người ném những câu bất ngờ :

- Sướng he ! Một bà hai ông he !

- Có muốn thì lên ! Năm Cà Dom vui vẻ ngoắc- Lên đây !

Anh lính lắc đầu :

- Thôi teo tóp mẹ nó hết rồi ! Tiên có vẫy em cũng xin thôi !

Trời tiếp tục mưa to, đường càng vắng. Những lối đi ven bờ suối cũng ngập luôn. Thế mà anh lính gãy chân vẫn nằm tòn teng trên võng, nước ngập cả người, anh phải ngóc cổ lên. Và bốn người khiêng anh ta cứ lần bước một, tay bám vách đá mà đi. Gần đến chỗ chúng tôi thì một người trượt chân ngã. Cái võng bị ném xuống nước và anh bệnh bị nước cuốn phăng đi như một chiếc lá. Nhanh như chớp một anh lao theo chụp lấy, nhưng chỉ quơ được cái ống quần của anh bịnh cho nên chỉ giữ được chiếc quần trong tay còn anh ta thì tuột trôi theo dòng nước.

Năm Cà Dom thét lên :

- Mau mau, kẻo trôi mất!

Hai anh kia lao theo như Tarzan. Và sau một chập đuổi bắt, hai anh bè được người bịnh về như một khúc chuối cây xơ xác. Có lẽ cái tai nạn đã làm cho bản năng sinh tồn sống dậy cho nên anh ta tỉnh hẳn lên . Anh ta bám chặt một cái rễ cây và gục đầu vào đấy. Và lại rống lên : « Ối giời ơi, bố mẹ ơi, ối làng nưới ơi »

Năm chép miệng :

- Gay go nhất là cái chân gãy. Làm sao đi, đời anh ta kể như « lúa » rồi !

Tôi không muốn nhìn cái cảnh tượng ấy nữa. Tôi đi tìm củi. Bỗng Năm xem đồng hồ và nói :

- Bây giờ thì không thể đi kịp rồi. Nước lên to quá ! Cứ hạ trại ở đây. Chuyến giao liên ngày mai đi ngang mình sẽ tháp tùng.

Thế là tôi và Năm cũng mắc võng căng tăng. Và tìm cách nấu cơm, nấu cháo. Gạo thì còn chút đỉnh, nhưng làm sao nấu ? Không có củi, cũng không có chỗ bắc bếp. Năm nói :

- Anh có vẻ thư sinh quá. Gặp cái gì bất ngờ tôi thấy anh cũng lúng túng. Không sao đâu, tôi sẽ có cách !

Rồi Năm nói giọng cà rỡn :

- Anh lấy con dao rừng của tôi đây. Anh leo lên cái gốc cây đó ngồi mà gọt cho tôi.

- Gọt cái gì ?

- Gọt cái cây đứng đó. Gọt từng lát một như lát cam thảo của thầy thuốc Bắc vậy .

- Trời đất ! Tôi kêu lên.

- Ừ, anh thấy công việc ghê gớm lắm, nhưng anh gọt trong một tiếng đồng hồ sẽ có đủ củi đun sôi một gà mèn nước. Gọt một giờ rưữi thì sẽ có củi nấu được một gà mèn cháo búp búp. Mình sẽ nấu một gà mèn cháo, mỗi đứa húp một chén chịu trận tới ngày mai. Nói xong, Năm nhảy ùm xuống suối lội qua chỗ anh lính gãy chân. Anh ta còn giữ được cái lương tâm của người thầy thuốc.

Tôi làm y lời Năm. Tôi ngồi gọt cái gốc cây rừng, với cái kiên nhẫn của người xưa đục núi mở đường. Xong tôi gọt dép cao su láy ra một ít lát để nhóm lửa. Cuối cùng tôi nấu được một gà men cháo. Tôi gọi Thu dậy. Tôi múc cho nàng đầy nắp ga men và bỏ vào đó một ít đường cát của tôi.

Thu húp xong, òa lên khóc. Tôi ngồi lặng im. Không nói một tiếng nào, như không quen với Thu và không biết Thu đang khóc.

Trời tối mờ mờ. Hạt mưa bay vun vút qua mặt tôi. Gió rít như giận dữ. Những thân cây xoay tít, những nhánh cây vặn vẹo như những con trăn uốn mình, chực tách ra rơi xuống đầu chúng tôi. Tôi cũng ngồi bất động .

- Uống thuốc phòng đi anh ! Thu đã dứt khóc từ bao giờ và nhắc tôi bằng một giọng còn đẫm nước mắt.

Tôi không quay lại và đáp :

- Chắc không sốt đâu. Vi trùng sốt rét cũng phải trốn khỏi cái cảnh tượng này. Em có đỡ hơn không ?

- Còn bao xa nữa anh ?

- Đi tới rồi mới biết bao xa.

- Mình phải biết là mình sẽ đi bao xa nữa chứ !

- Cố nhiên là khi đi người ta phải biết trước con đường mình đi, nhưng ở đây mình không thể biết thì làm sao ?

Thu lặng im. Thu nghếch đầu lên mép võng và nhìn dòng nước cuốn. Mặt nước cuộn lên như cái lưng của con thuồng luồng nổi giận từ thời tiền sử. Đột nhiên Thu nói :

- Em đã quyết định rồi !

- Quyết định gì ?

- Em đã có lần nói với anh.

- Hừm ! Em cứ thế mãi…!

- Em biết có đi cũng không đến !

Tôi lặng thinh. Thu xuýt xoa :

- Em rét quá anh ạ !

- Đâu còn cái gì khô, kể cả cái ruột bật lửa thì làm sao hơ hám cho Thu. Ngồi trong tăng mà như ngồi ngoài mưa. Tôi lục ba lô lấy lọ cù là quốc doanh, một thứ cù là mà nếu người ta bôi vào mũi và trán sẽ lột da ngay. Vậy mà nó rất hữu dụng trong dịp này. Tôi bảo :

- Để anh đánh gió cho. Rồi không chờ Thu trả lời, tôi bước lại võng. Thu nằm sấp lại và vén áo cho tôi. Tôi quệt ngay một mớ cù là thật nhiều trên hai sóng lưng và đưa tay chà xát thật mạnh để tránh cho nàng cơn lạnh.

- Em thấy nóng không em ?

- Lạnh lắm, anh xát mạnh vào. Thế ! Thế !

Trong ánh sáng hoàng hôn, trong màn mưa dầy đặc, tôi đang sống trong một cơn say. Tôi ngây ngất vì  mùi dầu hòa với mùi da thịt nàng. Tôi muốn lập lại mỗi cử động, chà xát bàn tay tôi vào làn da trắng mượt của nàng mà cả trong bóng tối, trong lâm nguy, tôi vẫn trông thấy vang lên tiếng kêu của da thịt, của dục tình..

Tôi run run hỏi :

- Em đã thấy đỡ nhiều chưa ?

- Đôi chân em còn lạnh quá !

Tôi lại xoa dầu và bóp chân nàng. Tôi nắn và bôi dầu vào từng thớ thịt của nàng. Đôi chân nàng dài nằm song song trên võng như hai thỏi ngọc chẳng gợn chút bụi trần, dần dần ấm lại và nóng ran, bốc hương nồng ấm. Không biết tôi làm cho nàng ấm lại hay chính nàng đã nhen lên ngọn lửa trong tôi. Nàng nằm im, duỗi thẳng đôi chân  mà nghe sức nóng và cảm giác chạy lan khắp người, còn tôi như một tên nô lệ miệt mài và mong ở nữ chúa một phản ứng tốt lành. Tôi đưa tay run run xoa dầu trên cổ nàng. Nhưng nàng xoay mình và từ từ đưa tay lên bấm cúc áo và hơi ưỡn ngực lên để cho cả một vầng tuyết trắng hiện trước mắt tôi và đôi môi nàng khẽ mấp máy :

- Em còn lạnh quá anh !

- Em, tôi khẽ kêu lên và tôi cảm thấy khỏe hơn bất cứ bao giờ.

Tiếng dây võng nghiến dưới một sức mạnh gấp đôi. Nàng tỉnh hẳn ra. Nàng trăn trở trong tay tôi. Nàng nức nở. Nước mắt của nàng nhiều hơn nước suối đang dâng. Ngoài trời vẫn mưa. Dòng suối phình to lên rồi tràn trề.

Năm Cà Dom bơi trở về, vừa ho vừa khạc, Năm vuốt mặt và kêu lên :

- Nguy quá, gãy hết một cái xương bắp chân. Chịp ! Nằm lại đây thôi . Đi đâu nữa mà đi?

Tiếng anh binh sĩ gãy chân rên rỉ lúc to lúc nhỏ, như tiếng kêu của một oan hồn. Anh ta kêu bố kêu mẹ, rồi kêu làng nước, anh ta kể lể chuyện khiêng nòng pháo nặng như thế nào, nó đè anh ta suýt gãy xương sườn mà cấp chỉ huy không cho nghỉ và lần nầy thì gãy chân.

Năm Cà Dom gọi tôi :

-Ông bạn văn sĩ này !

- Có tôi đây.

- Ông bạn đi trên đường này thấy rất nhiều điều phải không ?

- Tát nhiên.

- Ông bạn kể cho tôi nghe một điều xem !

- Chính bản thân ông bác sĩ đã là một điều rất hay ho.

Năm Cà Dom phá lên cười và đập vào võng nghe phành phạch.

- Đúng ! Đúng. Chính cái việc tôi về đây được là cả một sự đời. Này ông bạn à ! Nhiều khi mình chửi bới tục tằn mình thấy cũng ngượng, nhưng mình không thể văn hoa mà phải dùng « giấy năm trăm » mới thỏa mãn.

 Tôi hỏi lại : Còn anh, anh cũng phải kể cho tôi nghe một điều lạ chớ !

Năm Cà Dom cười hắc hắc và nói ngay :

- Chánh phủ sẽ có nguồn lợi to lớn sau khi hết xài con đường này.Anh biết không, mỗi bộ xương bán cho Viện Giải phẩu sáu trăm năm chục đồng chẳn chòi. Mà trên đường này, riêng tôi, tôi đã thấy đến ba bộ và chung quanh đây, như anh nói, cũng ít nhất là ba bộ…

- Tôi cũng có gặp một bộ, và đặc biệt là bộ xương Mỹ. Xương Mỹ chắc giá cao hơn.

- Sao anh biết là xương Mỹ ?

- Vì nó còn sống nhưng chắc chắn nó sẽ rũ xương trong cái cũi giam nó.

Năm Cà Dom nói :

- Tựu trung con người cũng chỉ là con vật hai chân, nhất là trên con đường này.

Đêm sâu hun hút. Tiếng nước đổ từ trên nguồn ầm ĩ nghe xa lơ xa lắc như một kỷ niệm vùi lấp trong sương mù. Tiếng nước đổ như dội vào tâm tư tôi, như gội sạch cho tôi những ưu phiền của một chặng đường, của suốt con đường đã đi qua.

Bên cạnh tôi, Thu nằm im. Anh bác sĩ vui tính thì cứ trở mình, võng cứ khua sột soạt. Còn tôi như một tín đồ bất đắc chí đang mượn cái cảnh mưa gào gió thét mà sám hối.

Tôi tự thú nhận rằng tôi đã nản chí, tôi không còn muốn phấn đấu nữa. Tôi muốn làm một chiếc lá trên  dòng suối cuộn dâng này. Tôi nhớ lại câu nói của Lâm một chiều nào. Câu nói thỉnh thoảng vang lên trong tâm trí tôi. Bây giờ, cũng trong trạng huống nguy ngập này, câu nói trở lại như một người bạn,  một kẻ thù, như một vuốt ve, như một lời hăm dọa :« Lần đầu tiên tao cảm thấy tao đi không đến nơi »

Đối với tôi, đây không phải là lần đầu tiên tôi cảm nhận điều đó. Tôi đã thấy khi tôi ăn, khi lên cơn sốt nhưng tôi tự bảo tôi : Có chết hãy chết gần Saigon, và với ý nghĩ ấy, tôi cố lê thân xác tôi nhích tới từng trạm một.

Các bạn người Nam ơi, ai đã từng sống trên đất Bắc những năm dằng dặc mưa phùn gió bấc, ngồi trong nhà nhìn ra ngoài trời thấy bóng núi mịt mù trong mưa mà không nhớ quê hương ruột đứt từng đoạn. Ai sống trên đất Bắc mà chẳng mong ngày về Nam dù biết mình về không đến nhưng cũng đi về. Cứ đi, dù có chết, cũng chết trên đường về.

Bất giác tôi đưa tay vuốt nước trên trán như muốn lau sạch bùi trên tấm gương kỷ niệm để tôi có thể nhìn lại những hình ảnh xa xưa thân yêu nhứt như những hình ảnh sau cùng.

Mái nhà, bờ ruộng với những rặng trâm bầu râm mát trưa hè. Và đây rồi, cái kỷ niệm sâu sắc nhất của cậu học sinh trường làng. Trên con đường đá xanh đầy ổ gà từ làng lên quận, một chú ngựa còm kéo chiếc xe ọc ạch với lão già đầu bạc cầm con roi nẹt đen đét trong không khí.

Không hiểu sao, mỗi lần tôi nhớ tới quê tôi thì tôi bắt gặp lại cái hình ảnh ấy. Chiếc xe ngựa quá thân thuộc vơi tuổi thơ của tôi. Từ lúc chú ngựa hãy còn tơ sung sức, đã từng oanh liệt đuổi theo xe hơi cho đến chú ngựa gầy yếu cam chịu cho đồng bạn lướt qua mặt mình, tôi vẫn đi trên chiếc xe ngựa ấy. Rồi cho đến khi chú ngựa kiệt sức, lão già đem  một mớ cỏ non treo trên đầu cần câu buộc dọc theo gọng xe để khuyến khích chú ngựa chạy nhanh lên, tôi vẫn không đi chiếc xe nào khác.

Một hôm tôi hỏi lão già : Sao bác chơi chi ác vậy ?

Lão già chỉ cười, cái cười thỏa mãn của một người thi hành một quỷ chước thành công. Tôi đã chứng kiến một cảnh não lòng. Hôm đó, chiếc xe về gần tới chợ. Cái dốc cầu cao quá. Lần nào về tới đây lão già cũng hò hét nẹt roi vang dội, chú ngựa bỏ vó rầm rập xuống mặt đường đá xanh, tóe lửa, cố lôi chiếc xe lên đến nửa dốc. Bỗng nó bỏ vó lơi hẳn đi. Mớ cỏ non đang nhảy múa tung tăng trước mặt nó bỗng lắc lư như quả lắc đồng hồ. Lão già vừa nẹt roi vừa quát, nhưng chiếc xe sựng lại rồi tuột dốc. Lão già vội nhảy xuống đất, cắn chiếc roi vào mồm và hay tay bắt bánh xe lăn tiếp với con vật.

Nhưng chiếc xe nặng quá, và đàng sau chiếc xe còn có hàng chục năm lao lực, cho nên dù tài cán mưu kế đến đâu, lão già và con ngựa kiệt sức cũng không đẩy nổi chiếc xe lên dốc. Chiếc xe cứ tuột dần, và bỗng đánh rầm một cái, chiếc xe lật ngang. Lão già chạy tới nắm cái hàm thiết của con ngựa lôi nó đứng dậy, nhưng chú ngựa lại ngã xuống, bốn vó bơi lia, cùng với hai bánh xe quay tít trong không khí.. Lão già vội vã rứt lấy mớ cỏ non đã héo ở cần câu nhét vào miệng con vật đã sùi bọt trắng xóa, và vỗ vành :

- Ăn đi, ăn đi con là khỏe lại ngay !

Con vật như nghe lời ân nghĩa của chủ há mồm ra mà nhận lấy cái phần thưởng độc nhứt của đời nó trước khi nó trợn  mắt lên nhìn lão chủ lần cuối cùng.

Con ngựa khổ đã chết và lão già cũng đã qua đời lâu rồi nhưng cái mớ cỏ non vẫn luôn nhảy múa trước mặt tôi mỗi khi tôi nhớ lại chiếc xe ngựa trên đường làng. Cái mớ cỏ non treo trước mắt đó, tội nghiệp chú ngựa, cứ chạy mãi mà không bắt được và ngày nay, trên còn đường đầy ổ gà ấy, không biết còn bao nhiêu con ngựa mải mê chạy theo bó cỏ non ?

Chao ôi ! Sao giữa cái cảnh hãi hùng này mà tôi nhớ chi vậy cái chuyện buồn năm xưa?

Tiếng rên rỉ của anh lính gãy chân đưa tôi trở về với cái thực tại rằng mình đang nằm bên một con suối lũ. Trời vẫn tiếp tục mưa và nước đã dâng lên đến sát đít võng tôi.

Gió hú trên những ngọn cây như bước đi của những oan hồn tìm chỗ nghỉ chân. Một nhánh cây thò vào đầu võng tôi chập chờn như một mớ cỏ non nhúng nhảy. Nếu quả thật đó là mớ cỏ non thì đây chính là chiếc xe đã gãy đổ dọc đường.

Tôi không  phân biệt được quá khứ và hiện tại, và nhất là tôi không dám nghĩ đến ngày mai. Ngày mai trên dãy Trường Sơn này hay ở đâu mà con đường nầy dẩn đến, dù trái đất có xoay, dù mưa hay nắng thì cái ngày mai ấy cũng chỉ là sự lập lại cái ngày nay và cái hôm qua. Tôi nghếch đầu nhìn lên mé võng, cố giương mắt nhìn ra ngoài nhưng mưa đen đặc có thấy gì đâu !

Ôi chao, con đường với những chặng đường…Sau lưng tôi, cái mộ bia của anh lính bên cạnh hai bàn chân lòi ra mô đất và cái bộ xương trong hốc đá, lẫn lộn với chiếc xe ngựa chỏng gọng với bánh xe quay tít và vó ngựa chòi đạp trong không gian. Còn phía trước tôi, chỉ là…và…

 

Saigon, hè 1973.

Xuân Vũ