Vai trò của dĩa hát trong sự phát triển bộ môn Cải lương

Nét đặc sắc rất đáng phải chú ý củabộ môn sân khấu Cải Lương là: sự song hành, hỗ trợ lẫn nhau giữa sàn diễn vớicông nghệ quảng bá ngay từ thuở ban đầucủa trang sử Cải Lương. Chèo, Hát bội ra đời từ thời xa xưa, dĩ nhiên, làkhông có “công nghệ quảng bá”; nhưng ngay cả sau này, trong thời đại có côngnghệ, cả hai bộ môn này cũng không tạo được sự song hành mạnh mẽ như Cải Lươngđã từng thực hiện thành công.

Xin nhắc lại, lướt qua để cùng nhớ:Vào năm 1922 gánh hát của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho đánh dấu Cải Lương đã hoàn chỉnh “vóc dáng” (trước đó, gánh hát củaAndré Thận năm 1919 ghi nhận sân khấu Cải Lương đã hình thành nhưng còn ở dạng“phôi thai”). Ngay từ năm 1922, thầy Năm Tú đã phối hợp với hãng dĩa hát PathéPhono ở Sài Gòn để thâu tiếng ca của các đào kép. Những đĩa hát Pathé (loại 78vòng, có hình con gà trống) lúc đó thườngđược mở đầu như sau: “Đây là ban hát cải lương của thầy Năm Tú ở tạiMỹ Tho, ca cho hãng dĩa Pathé Phono nghe chơi”. Nhờ những dĩa hátnày mà Cải Lương không quẩn quanh chỉ trong vùng, mà ngay lập tức lan tỏa ranhiều vùng khác nữa.

Đến giai đoạn đất nước phân đôi,trong miền Nam nở rộ rất nhiều hãng dĩa giúp cho sân khấu Cải lương có nhữngbước phát triển vượt bực.

I/ Tổng quan sân khấuCải Lương tại miền Nam * Trước hết, xin đưa ra cái nhìn tổngquát về sự phát triển của Cải lương miền Nam, tập trung chủ yếu tại Sài Gòn, tronggiai đoạn đất nước còn chia đôi.

Hồi đó có những đoàn hát lớn, trongNam gọi là “đại ban”, chẳng hạn: “Nhất Chưởng, nhì Long, tam Thơ, tứ Út”.“Chưởng” là đoàn Kim Chưởng, rồi bầu Long của đoàn Kim Chung, “Thơ” là bầu Thơ(Nguyễn Thị Thơ) của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, và “Út” tức nghệ sĩ Út Trà Ônlần lượt lập một vài đoàn đều có tên “Út Trà Ôn” trong bảng hiệu.

Ngoài ra còn hàng chục đoàn nhỏ nữa,các đoàn liên tục xuất hiện hay biến mất, có đoàn “nở nồi” ngày càng lớn mạnh,lại có đoàn hoạt động vài năm thì rã, trong một bối cảnh cạnh tranh về nghệthuật lẫn “bí quyết” kinh doanh giữa các đoàn.

Chẳng hạn, ở “đại ban” Kim Chung từ năm 1964 liên tục pháttriển, cho tới cuối thập niên 60 đã có đến “đoàn Kim Chung 5”, “đoàn Kim Chung6”, cùng thuộc bảng hiệu “Công ty Kim Chung”. Nhờ nguồn tài chánh dồi dào, ôngbầu Long đã qui tụ được lực lượng diễn viên hùng hậu, song song đó là lăng-xêdiễn viên trẻ.

Hoặc như sân khấu Thanh Minh Thanh Nga duy trì được hoạtđộng rất lâu so với nhiều đoàn khác, ổn định tài chánh, đa dạng nguồn diễnviên. Không chỉ có những nghệ sĩ trong gia đình như nữ nghệ sĩ Thanh Nga, nghệsĩ Hữu Thìn (anh của Cô Thanh Nga), nghệ sĩ Bảo Quốc (em của Cô Thanh Nga), nơiđây còn mời được những nghệ sĩ nổi tiếng như Út Bạch Lan, Hữu Phước…

Các “đại ban” nhờ có nguồn tài chánhổn định nên thuận lợi trong việc ký “công-tra” (contract) mời diễn viên cótiếng, cùng với những tài năng trẻ đang lên. Do có ưu thế về diễn viên kỳ cựu,“ăn khách” nên các đại ban thường xuyên diễn tại các rạp ở Sài Gòn, thỉnhthoảng kéo đi lưu diễn ra miền Trung hoặc xuống miền Tây.

Trong khi đó, các đoàn nhỏ như SaoNgàn Phương, Tân Hoa Lan, Hoa Mùa Xuân, Trăng Mùa Thu… và hàng chục đoàn khácnữa ít khi trụ nổi tại Sài Gòn mà thường xuyên đi lưu diễn tìm kiếm khán giả.

* Hết thảy các đoàn hát Cải Lươngtrong Nam đều phải dựa trên nhu cầu / thịhiếu khán giả, tức qui luật thịtrường sàng lọc, để tồn tại. Do đó, phải không ngừng tìm hiểu nhu cầu biếnđộng từ khán giả để thích ứng. Điều này giải thích bộ môn sân khấu Cải lương ởmiền Nam vô cùng đa dạng về các “dòng” tuồng (tâm lý xã hội, kiếm hiệp, “hươngxa”, phóng tác từ tiểu thuyết VN cho tới tiểu thuyết phương Tây, tiểu thuyếtTrung Hoa cổ điển…).

Lực lượng diễn viên được phát hiệntài năng khá sớm, được đào tạo và bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật qua bàn taycủa những đàn anh đàn chị đi trước. Hoặc được các soạn giả kiêm vai trò “thầytuồng” (mà nay ta thường gọi là “đạo diễn”) nâng đỡ, đưa diễn viên vào vaithích hợp theo cách mà người trong giới Cải lương gọi là “đo ni đóng giày”. Cóthể kể đến tên tuổi soạn giả kiêm “thầy tuồng” Năm Châu (Nguyễn Thành Châu), HàTriều - Hoa Phượng, Ngọc Văn, Ngọc Linh, Hoàng Khâm, Nhị Kiều, Nguyễn Phương,Nguyên Thảo, Yên Lang, Thiếu Linh…

Và không thể không nói đến sự đónggóp của những nhạc sĩ cũng tham gia viết tuồng, với lợi thế am hiểu bài bản cảilương, như nhạc sĩ Bảy Bá nổi tiếng với biệt danh “Vua viết Vọng cổ Bảy Bá” khiông viết tuồng lấy tên là Viễn Châu...

* Đặc biệt, vào thập niên 60 chứng kiến sự song hành giữa sân khấusàn diễn với thị trường dĩa hát nhựa. Để giữ những diễn viên nổi tiếng ở lạitrong “biên chế”, một số đoàn lớn (đại ban) không chỉ ký “công-tra”(“contract”: hợp đồng) với cát-sê cao mà còn ký hợp đồng độc quyền thâu dĩa với diễn viên. Điều này đem lại lợinhuận cho đôi bên: tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư (giới bầu chủ các đoàn) và tănglợi nhuận cho nghệ sĩ.

Không chỉ vậy, việc thâu dĩa các vởCải lương, thâu dĩa các bản ca cổ - đặc biệt là “Tân cổ giao duyên” - còn đápứng nhu cầu của khán giả khắp cácthành thị cho tới thôn quê!

II/ “Cải lương đến vớimỗi nhà”

* Máy hát dĩa đã được nhập vào Việt Nam từ năm 1910.Tuy nhiên, đến thập niên 60 của thế kỷ XX, lượng máy hát dĩa mới tương đối phổbiến rộng rãi hơn.

Chỉ cần một cái máy hát dĩa nhựa (lúcđó máy móc được nhập nhiều) cùng một số bộ dĩa là khán giả có thể đáp ứng nhucầu mê Cải lương của mình.

Về dĩa hát, những tuồng Cải lương thườngđược ghi trong dĩa nhựa lớn (có 33 vòng). Một tuồng Cải lương như vậy gồm mườimấy dĩa hoặc có những tuồng Cải lương trích gọn gồm hai dĩa lớn, gọi là dĩa số1 và dĩa số 2 để trong hai hộp bìa cứng riêng để tránh trầy xước. Còn dĩa nhỏ(45 vòng) thường dùng để ghi những bài Tân cổ giao duyên (hoặc tân nhạc).

Dĩa hát hồi đó, khán giả phải mua dàidài vì tuồng tích cứ được sáng tác và thâu mới hoài, mặt khác còn vì… dĩa hátdù có giữ kỹ cách mấy thì sau một thời gian cũng bị trầy xước khiến cho âmthanh phát ra bị “cà lăm”, phải mua dĩa khác.

Tôi còn nhớ một số bộ dĩa nhựa cải lươngmà tôi nghe ở dưới quê như Người phukhiêng kiệu cưới, Xin một lần yêu nhau, Giai nhân và loạn tướng, Áo vũ cơ hàn,Trinh nữ lầu xanh, Nửa đời hươngphấn, Tuyệt tình ca 1, 2 ,3 (tức "Ông cò quận 9"), Tình mẫu tử (1 dĩa, 33 vòng)… Ở quê ítkhi có điều kiện coi sân khấu sàn diễn, nên đa số bà con mở máy hát dĩa, nghecũng sướng. Nhiều người ưa nghe một vở tuồng nhiều lần đến nỗi thuộc làu cảtuồng. Những lúc ra ruộng, họ hay hát các lớp trích đoạn cải lương, vừa hát vừabỏ mạ cho quên mệt nhọc.

* Lúc bấy giờ các vở tuồng Cải lương nổitiếng đều được các hãng dĩa tranh nhau thâu dĩa, và hầu hết những diễn viênđoạt giải Thanh Tâm cùng với những giọng ca trứ danh đều được các hãng dĩa mờithâu với hợp đồng hậu hĩnh.Nói về nghệ sĩ cộng tác với các hãng dĩa, có thể kểđến “Ông hoàng dĩa nhựa” Tấn Tài mà thù lao cho mỗi lần thâu một tuồng cảilương qui ra hơn một cây vàng; rồi “Bốn Nữ hoàng dĩa nhựa” là Út Bạch Lan,Phượng Liên, Mỹ Châu, Lệ Thủy; cùng với “Khôi nguyên Vọng cổ” Minh Vương, ÚtTrà Ôn, Thanh Nga, Minh Cảnh, Minh Phụng, Hữu Phước, Bạch Tuyết, Hùng Cường...

Nghệ sĩ TấnTài, HCV giải Thanh Tâm năm 1963, với giọng ca nổi tiếng trầm ấm đã thâuhơn 400 dĩa nhựa với hàng ngàn bài ca cổ. Ông cũng thâu những tuồng Cải lươngnhư: Bóng hồng sa mạc (vai Alikhan), Cát Dung Phương Tử (vai Điệp Nhứt Lan), Chiêu Quân cống Hồ (vai An Lộc Sơn)...

Út Bạch Lan nổi tiếng với danh hiệu "Sầunữ", đã được thâu tiếng trong nhiều dĩa như: Thuyền ra cửa biển, Con gái chị Hằng (vai chị Hằng), Nửa đời hương phấn (vai Hương)...

Nghệ sĩ Phượng Liên có giọng ca rất chắc nhịp, HCV giải Thanh Tâm năm 1966.Cô thâu dĩa khá nhiều vở Cải lương nổi tiếng: Tâm sự loài chim biển (vai Diệp Thúy Oanh), Sân khấu về khuya (vai Giáng Hương), Hẹn một mùa xuân (vai Kiều Yến Phương), Lấy chồng xứ lạ (vai Liễu),Quán khuya sầu viễn khách (vai Hoàng Tuyết Hương), Nhạn về xóm liễu (vai Cẩm Tú),Tuyệt tình ca (vai Lê Thị Trường An),Nửa đời hương phấn (vai The/Hương), Látrầu xanh (vai Hồng), Xin một lần yêunhau (vai Hạ Cơ), Đời cô Hạnh (vaiHạnh), Phận gái 12 bến nước (vaiPhương), Cô gái Đồ Long (vai Hân Ly),Dập tắt lửa lòng (vai Hoa), Tướng cướp Bạch Hải Đường (vai Dung), Mùa thu trên Bạch Mã Sơn (vai Chu MộngThúy)… Bên cạnh đó, Phượng Liên còn thâu các bài Tân cổ giao duyên, như: Hoa mua trắng (đơn ca), Luật sư nhà sư (với Hùng Cường), Chuyến xe lam chiều (với Minh Cảnh), Chút tình Dạ cổ hoài lang (với Hồng Nga,Chí Tâm), Xuân này con không về (vớiThanh Tuấn), Tâm sự Mộng Cầm (với TấnTài), Con đường mang tên em (với TấnTài), Chiều (với Thanh Sang), Nỗi buồn đêm đông (với Minh Cảnh), Phút cuối (với Minh Vương), Đêm đông (với Thành Được), Nửa đêm ngoài phố (với Minh Phụng), Xa vắng (với Minh Vương)…

Mỹ Châu nổi tiếng với giọng thổ, trầm ấm, Côxuất hiện trong khá nhiều tuồng cải lương thâu dĩa như: Trinh nữ lầu xanh (vai Mai Thảo), Áo vũ cơ hàn (vai Cát Mộng Thùy Dương), Mùa thu trên Bạch Mã sơn... Mỹ Châu đã gặt hái nhiều thành công,được trao HCV giải Thanh Tâm 1967.

Lệ Thủy, trên sân khấu đoàn Kim Chung, đượcxem là cô đào ngoại hạng. Cô đã nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1964. Cô càng nổitiếng hơn nữa khi thâu dĩa các bài ca lẻ như: Cô hàng chè tươi, Chàng là ai?..., một số dĩa cải lương như: Xin một lần yêu nhau (vai Hồ Như Thủy), Đêm lạnh chùa hoang (vai Bảo Xuyên), Kiếp nào có yêu nhau (vai Quế Minh), Người phu khiêng kiệu cưới (vai Cát MộngThiên Lang), Tiêu Anh Phụng (vai côngchúa)…

ThanhNga,với dĩa Con gái chị Hằng, Chuyện tìnhtuổi 17, Hoa Mộc Lan (ca với nghệ sĩ Hữu Phước), Tấm lòng của biển (với Út Bạch Lan, Minh Cảnh, Hữu Phước), Tình là dây oan (với Ngọc Nuôi, HữuPhước)…

* Cải Lương của sàn diễn, trong bốicảnh đặc trưng của thời chiến tranh giai đoạn 1954-1975, chúng ta đều biếtkhông phải lúc nào cũng đi lưu diễn dễ dàng. Nhưng Cải Lương vẫn đến được mỗi nhà-  là nhờ vào phương tiện côngnghệ thời đó: dĩa hát audio!

Nói cách khác, công nghệ dĩa hát đã quảng bá cho bộ môn sân khấu Cải lương đến cáctỉnh lỵ, vùng quê xa xôi, tạo được tầm ảnh hưởng đáng kinh ngạc. Không ít ngườidân thuộc lòng các lớp tuồng, thậm chí thuộc nguyên vở, nhớ như in cho đến tậnhiện nay sau cả nửa thế kỷ.

III/ Sự nở rộ các hãngdĩa hát

Thịtrường dĩa hát thập niên 60 và những năm đầu 70 của thế kỷ XX rất sôi động vớisự ra đời nhiều hãng dĩa như: Sơn Ca, Quê Hương, Thủ Đô, Tân Thanh, Thiên Thai,Dạ Thanh, Capital, Sống Mới, Nhạc ngày xanh, Vô Tuyến, Kim Cương, Hoành Sơn … Trongđó, có 4 hãng dĩa nổi bật với số lượng danh mục dĩa hát Cải lương và Tân cổgiao duyên thuộc hàng “đỉnh”, các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng ở miền Nam đều từngcộng tác với bốn hãng dĩa này. Đó là: hãng dĩa Continental, Hồng Hoa, Việt Hải, và hãng dĩa Việt Nam.

* Hãng Continental:

Vào năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đôngcùng một doanh nhân lập ra hãng dĩa ContinentalSơn Ca, ngoài tân nhạc và dânca, đã ưu tiên thâu dĩa cải lương và cổ nhạc. Nguyễn Văn Đông là giám đốc chịutrách nhiệm về nội dung và nghệ thuật. Ông Huỳnh Phú Tứ lo về khâu sản xuất,kinh doanh.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sử dụng haibút danh: bút danh Phương Linh đểdành cho các chương trình hòa đàn hay sáng tác các chương trình nhạc đệm vàviết các bài tân nhạc (đưa vào thâu dĩa Cải lương, phối hợp với các danh cầm cổnhạc như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm…); và bút danh Đông Phương Tử là dành cho các sáng tác Tân cổ giao duyên và đạodiễn các chương trình Cải lương thâu vào dĩa cho hãng nhà Continental.

Hãng dĩa Continental thâu hơn 50bộ dĩa nhựa cải lương nổi tiếng lúc bấy giờ như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Sân khấu về khuya, Mưa rừng, Tiếng hạctrong trăng..., và hàng trăm chương trình hòa đàn ca cổ, như: Hận tình Tô Ánh Nguyệt (với các giọng caNgọc Giàu, Hữu Phước, Thành Được), Háilộc đầu năm (giọng ca Ngọc Giàu), Điệutrầm tháng 8 (Bạch Tuyết), Cô nữ sinhGia Long (Tấn Tài - Ngọc Giàu hát), Ngàymai tôi đi (Phương Quang - Phượng Liên), Hoa lòng năm cũ (Hùng Cường), Cánhthiệp hồng (Mỹ Châu), Xác pháo nhà ai(Bạch Tuyết)...

* Hãng Hồng Hoa (mà “tiền thân” là hãng dĩa Asia đã từng thâu tiếng nhữngdanh ca cải lương nổi tiếng trước đây như Năm Nghĩa, Tư Sạng, Năm Cần Thơ...):

Có thể kể một số dĩa cổ nhạc và vởCải lương, như: Tôn Tẫn giả điên (ÚtTrà Ôn), Anh nhớ về thăm em (giọng caLệ Thủy), Đêm tàn bến Ngự (NgọcGiàu), Hận tình vương nữ (Thanh Nga),Cô hàng chè tươi (Lệ Thủy), Tiếng hát mường Tênh (Út Trà Ôn - DiệuHiền); Con cò trắng (với dàn nghệ sĩlà Ngọc Hương, Ngọc Lan, Bo Bo Hoàng, Bạch Lê, Hữu Phước, Thanh An, Bảy Xê, HềMinh...), Nắng chiều trên sông Dịch(có Hữu Phước, Thanh Hải, Trường Xuân, Thanh Hương, Ngọc Hương…), Thoại Khanh Châu Tuấn (với Tấn Tài, NgọcGiàu, Phượng Liên), Anh hùng Xạ điêu(với Mỹ Châu, Ngọc Giàu, Kim Ngọc, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài), Trăng rụng sau chùa, Thôi Tử thí Tề quân…

* Hãng Việt Hải:

Đã phát hành trên thị trường nhữngdĩa tuồng Cải lương, như: Đêm khuya trôngchồng (Út Bạch Lan), Lương Sơn Bá -Chúc Anh Đài (Thành Được - Phượng Liên), Tình mẫu tử (Ngọc Giàu), Mồchồng còn xanh cỏ (Tấn Tài - Minh Phụng - Mỹ Châu - Ánh Hồng), Tâm sự Mộng Cầm (Tấn Tài - PhượngLiên)...

San Hậu (với Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Phượng Liên,Út Trà Ôn, Minh Phụng, Út Hiền, Văn Hường…), Tiết Giao đoạt ngọc (Minh Phụng, Mỹ Châu, Phượng Liên…), Nhất kiếm bávương (Minh Phụng, Hữu Phước, DũngThanh Lâm, Phượng Liên, Lệ Thủy, Hồng Nga…), Vú sữa đầu mùa (Minh Phụng, Dũng Thanh Lâm, Phượng Liên, Lệ Thủy...),Nhạn vềxóm Liễu (Minh Phụng, Hữu Phước, MinhĐức, Phượng Liên, Lệ Thủy, Hồng Nga, Kim Ngọc…), Người trai sa mạc (Minh Cảnh, MinhPhụng, Lệ Thủy, Phượng Liên...), Kẻ bên trời (Minh Phụng, Minh Cảnh, Phi Thoàn, Kim Ngọc, Diệp Lang...);

Về dĩa ca cổ, có: Mưa lạnh Thảo cầm viên, Phạm Lãi biệt Tây Thi (Út Trà Ôn, ÁnhNga, Minh Cảnh), Tiếng ve sầu (MinhCảnh, Út Bạch Lan), Ghét thương, thươngghét

* Hãng Việt Nam:

Là một hãng dĩa nức tiếng, được nhiềunghệ sĩ thừa nhận hãng có công trạng to lớn đối với sự sống còn củangành Cải Lương. Do Cô Sáu Liên lập vào năm 1968, nối tiếp ngành nghềcủa gia đình. Trước đó, hồi năm 1947 song thân của Cô Sáu Liên là ông Lê VănTài và ba Ngô Thị Mão đã lập hãng cũng mang tên “Việt Nam” từng thâu rất nhiều giọng ca vàng thời ấy như Tám Thưa, Minh Chí, Năm Phỉ,Phùng Há...

Sau khi cha mẹ của Cô Sáu Liên quađời, hãng đĩa được giao cho các con quản lý. Đến năm 1968, Cô Sáu Liên quyếtđịnh tách riêng ra, giữ lại nhãn hiệu “Việt Nam”.

Thời vàng son củahãng dĩa hát Việt Nam, dĩa chất đầytrên kệ, đánh hàng về tận các tỉnh.

Cô Sáu Liên có nhạccảm tinh tế, trong giới nói Cô có “đôi tai thần kỳ” mà giới nghệ sĩ lẫn thầyđờn (nhạc sĩ) đều nể nang. Có những nghệ sĩ khi ca bị “chinh dây” hoặc “lỗinhịp” mà nhạc sĩ chưa kịp phát hiện thì cô Sáu Liên đã phát hiện trước nhất.

Chính đôi tai đó đã“bắt” được tương lai rực rỡ của Minh Vương, Thanh Kim Huệ, Chí Tâm, ThanhTuấn..., đưa về hãng để lăng-xê. Còn với Lệ Thủy, Minh Phụng, Mỹ Châu, MinhCảnh... đã nổi tiếng ở sân khấu Kim Chung, cô Sáu cho thu âm, phát hành rộngrãi mà nhờ vậy cát-sê của những nghệ sĩ này được bầu chủ đoàn hát cho tăng lênnhằm “giữ chân”.

Chính nhờ vào những hợp đồng thu dĩaở hãng Việt Nam mà nhiều nghệ sĩ khẳngđịnh được tên tuổi, công thành danh toại.

- Dù “sinh sau đẻ muộn” so với vài hãngkhác, nhưng hãng dĩa Việt Nam vươnlên rất mạnh mẽ, không chỉ về số lượng dĩa tung ra mà cả về phẩm chất nghệthuật, được đông đảo thính giả mộ điệu từ thành thị cho đến nông thôn.

Về dĩa cải lương, đa số là các vởtuồng kiếm hiệp, màu sắc “hương xa”đang thịnh hành thời đó,  như: Bóng hồng sa mạc (với Tấn Tài, MinhPhụng, Mỹ Châu, Diệu Hiền, Văn Chung...),Mùa thu trên Bạch Mã Sơn (Minh Cảnh, Mỹ Châu, Đức Lợi, Phượng Liên, PhươngBình, Thanh Thanh Hoa, Diệp lang, Nam Hùng…),Gái rừng ma (Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm, Hà Bửu Tấn, Ngọc Hương, Ngọc Giàu,Bạch Lê…), Bạch Xà Thanh Xà (DũngThanh Lâm, Út Bạch Lan, Mỹ Châu, Tám Vân…), TâySương ký (Thành Được, Thanh Nga, Kim Ngọc…), Người phu khiêng kiệu cưới (với Tấn Tài, Minh Phụng, Minh Vương,Phượng Liên, Lệ Thủy, Hồng Nga), Kiếp nàocó yêu nhau (Tấn Tài, Minh Phụng, Dũng Thanh Lâm, Thanh Sang, Mỹ Châu, LệThủy...), Đợi anh mùa lá rụng (TấnTài, Phượng Liên, Mỹ Châu, Minh Phụng), Hỏasơn thần nữ, Khi rừng mới sang thu, Tâm sự loài chim biển, Xin một lần yêu nhau,Đêm lạnh chùa hoang…

Cũng có một số tuồng xã hội nhưngkhông nhiều, như Lên voi xuống chó(với Hề Minh, Bo bo Hoàng, Ngọc Hương), Nạncon rơi, Sài Gòn thác bạc…

Ngoài ra hãng dĩa Việt Nam còn thu những chương trình Tâncổ giao duyên, tức là những bài tân nhạc viết thêm lời Vọng cổ. Dĩa dành thunhững chương trình này là loại dĩa 45 vòng, mỗi mặt là một bài Tân cổ giaoduyên.

IV/ “Nước lên thuyềnlên” (tác động của dĩa hát đối với sàn diễn)

* Sự phát triển rần rộ của ngành dĩahát đã dẫn tới “hiện tượng”: nhiều nghệ sĩ ban ngày đi thâu dĩa, ban đêm háttrên sân khấu, tức “chạy show” (nói theo ngôn ngữ thời thượng hiện nay).

Do sự kén chọn chất giọng khi thu dĩanên đã hình thành một lớp “ông hoàng bàhoàng” trong ngành cải lương dĩa nhựa. Nhờ vào các nghệ sĩ có chất giọng“hút hồn” nên nghệ thuật Cải Lương dễ đi vào lòng người, và sống hoài tronglòng khách mộ điệu.

* Sự nở rộ công nghệ thâu âm qua dĩacó tác dụng “kích thích” tình cảm ái mộcủa thính giả, và thính giả mong muốntrở thành khán giả khi có dịp. Tức là: Cải lương của dĩa hát tạo tác động tích cực đối với sự phát triển cải lương của sàn diễn. Nói cách khác,dĩa hát và sân khấu nương theo nhau để cùng sống.

Tôi xin phép ghi đôi dòng về ký ức cánhân… Hồi đó, lúc còn ở quê Gò Công, tôi thường nghe tuồng cải lương trong máyhát dĩa: Ông cò quận 9, Người phu khiêngkiệu cưới, Đêm lạnh chùa hoangđếnmức thuộc lòng, nên chỉ mong muốn được dịp xem mặt đào kép. Và rồi những đoàn hát lần lượt xuống chợ quậnHòa Tân. Một hôm, có đoàn hát lớn về. Tôi ra chợ thấy đèn đuốc sáng rực, tiếngloa thúc giục mọi người mua vé vô xem. Tôi đi lòng vòng, thích thú xem hình đàokép. Hôm sau, tôi ráng vá mấy chiếc xe đạp để có tiền mua vé tối đi coi hát.

Tối đó, tôi thấy choáng ngộp khi sânkhấu lên đèn. Cảnh trí đẹp và mới lạ... Người kéo micro cũng rất điêu luyện, dùđào kép liên tục di chuyển trên sân khấu. Tôi khoái nhất là cảnh bay lượn trênsân khấu. Câu chuyện lên đến cao trào, đào kép hát xong câu Vọng cổ, cả hai luidần về phía cánh gà. Đèn sân khấu xuống màu. Nhân viên hậu đài móc dây vàongười của đào kép. Ánh đèn chớp tắt. Nhạc tùng xèng nổi lên như báo hiệu chongười giựt dây, đào kép co giò lên bay, lao vào nhau đấu kiếm. Tôi thấy họ chỉhuơ huơ thậm chí kiếm không chạm vào nhau mà sao tôi vẫn nghe loảng choảng đếnđiếc tai. Tôi tình cờ thấy nhân viên hậu trường dùng hai mảnh thép đập vào nhaudưới cái micro treo cao. Hèn gì nó kêu to quá chừng... Đoàn hát lớn có khác, vừamúa vừa hát tuồng, mọi người say mê coi mà quên cả thời gian.

Đến bữa diễn cuối, đoàn có mời thêmkép Hùng Cường xuống. Buổi chiều kép Hùng Cường vừa bước xuống xe, mọi người tụtập lại đông ơi là đông, chào đón. Chợt có tiếng một bà má già vang lên rốirít: “Hùng Cường đâu? Hùng Cường đâu? Cho má xem mặt chút coi”. Kép Hùng Cườngđáp: “Con đây nè má”. Hai người nắm tay nhau vui mừng làm như hai người thânlâu ngày gặp lại không bằng. Mọi người chung quanh cũng cảm thấy vui lây.

* Như đã nêu trên, cải lươngcủa dĩa hát có tác động giúpphát triển cải lương của sàn diễn. Nhưngdo bối cảnh của thời chiến tranh, mặc dù các đoàn cải lương có muốn mở rộng địabàn lưu diễn để khán giả được dịp “biết mặt đào kép” cho thỏa lòng hâm mộ, thìcũng khó thực hiện.

Sau ngày hòa bình được lập lại, tứcsau ngày 30/4/1975, điều kiện lưu diễn đã trở nên thuận lợi hơn, vậy là khángiả rần rộ đến bãi diễn ngoài trời hoặc đến rạp. Đây cũng chính là một phần hệquả tích cực từ sự tác động của cải lươngtrên dĩa hát, tích tụ qua nhiều năm, nay được dịp thỏa nguyện đến với cải lương trên sàn diễn. Từ kênh “nghe” chuyển sang kênh “nhìn”.

V/ Làm cách nào, côngnghệ nghe/nhìn thúc đẩy Cải lương?

Nhiều năm qua chúng ta không ít lầnnghe giải thích rằng: các loại hình “nghe/nhìn” hiện đại đẩy lùi Cải lương,rồi… video cải lương đã “bào mòn” cải lương của sàn diễn. Tôi nghĩ, cách giảithích như vậy không thỏa đáng.

Như phần trên đã cho thấy công nghệdĩa hát không làm cho cải lương củasàn diễn thu hẹp, mà trái lại, thúc đẩy ngành Cải lương phát triển. Cũng vậy,công nghệ “nghe/nhìn” (audio-video), cụ thể là video cải lương lẽ ra giúpcho sân khấu Cải lương phát huy ảnh hưởng của mình nhiều hơn mới phải.

Tiếc thay, thực tế của những năm qua,lại cho thấy điều trái khoáy là: video cải lương
–  sau một thời gian “ăn khách”– đã giống như “rắn tự cắn đuôi mình”, làm cho cải lương của sàn diễn mấtkhách.

1/ Trước hết, “tiên trách kỷ, hậutrách bỉ”, trách mình trước khi trách người, xem xét những lỗi thuộc về chủquan thay vì đổ rịt cho những lý do khách quan.

Phần nhiều video cải lương thu playback, nhép miệng một đàng còn tiếngca đi một nẻo. Rồi cách quay & dựng vội vàng, mà chúng ta gọi là “mì ănliền”, đã khiến cho công chúng phát ngán.

Công nghệ audio của một số hãng dĩatrước đây, như hãng Việt Nam, hãng Continental… đều được thực hiện chămchút, chu đáo.

Nếu như công nghệ video những năm vừaqua cũng được làm kỹ lưỡng, ắt hẳn chúng ta không lãnh tác dụng “ngược” từvideo đối với sàn diễn.

2/ Vấn đề kế tiếp cần giải quyết,không thuộc về chuyên môn nghệ thuật, mà thuộc pháp luật về bản quyền.

Xin kể lại câu chuyện của cô Sáu Liênhãng dĩa Việt Nam. Sau giai đoạn“cải tạo tư sản”, cuối cùng, nhà nước có chủ trương trả lại hãng dĩa cho cô SáuLiên. Cô Sáu trở về, nhặt lấy “những đứa con” làkho dĩa hát, rồi lau chùi cho hết ẩm mốc. Nhờ vậy, thính giả mới còn có nhữngbài Vọng cổ để đời mà nghe.

Rồi Cô Sáu Liên bỏtiền đầu tư dàn thiết bị kỹ thuật số mới toanh để chuyển từ dĩa nhựa, dĩa than,và băng cassette sang dĩa CD. Có mộtthời gian dĩa CD được bán ra với số lượng “khủng”, nghe mà đã lỗ tai. Hàng ngànbài Vọng cổ và tuồng Cải lương xưa với các giọng ca vàng lại hồi sinh mãnhliệt.

Đâu ngờ… bị chép dĩalậu dễ dàng. Thêm mối nguy nữa, người ta “chôm”, rồi tải lên mạng, thế là mỗialbum đầu tư cả trăm triệu đã bị mất bản quyền chỉ sau nửa giờ phát hành!

Không nhà sản xuấtnào, cả audio lẫn video Cải lương, có thể cầm cự nổi trong tình trạng bị ăn cắpbản quyền liên tục.

Chúng ta, nhữngngười quan tâm đến hiện trạng và mơ ước tương lai cho Cải lương, không thể tựgiải quyết mà cần phải có sự vào cuộc củacác cơ quan quản lý. Chỉ khi nào bảo vệ bản quyền một cách nghiêm ngặtnhất, chúng ta mới có thể dự tính đâu ra đó về công nghệ nghe/nhìn (audio/video)thúc đẩy sự phát triển cho Cải lương.

Khi đã an tâm vìđược bảo vệ bản quyền, lúc đó điểm mấu chốt - dĩ nhiên - nằm ở khâu thực hiệnnhững sản phẩm audio/video sao cho chất lượng kỹ thuật & nghệ thuật đượctốt nhất.

Tôi tin rằng, sân khấu Cải lương muốn trỗi dậy mạnh mẽ thì không thể thiếuđược sự đồng hành của công nghệ audio/video.