Nhân dịp Kỷ Niệm 150 năm Ngày Phan Thanh Giản Tuẫn Tiết (1867-2017) nhắc lại

NHỮNG GÌ CÁC SỬ GIA MÁC-XÍT ĐÃ VIẾT
VỀ VỊ TIẾN SĨ ĐẦU TIÊN CỦA MIỀN NAM NĂM 1963
VÀ CHUYỆN CHỦ TỊCH SINH VIÊN PHAN THANH HÒA
BỊ CÔNG AN BẮT ĐEM ĐI MẤT TÍCH NĂM 1945


Năm2017 là năm kỷ niệm lần thứ 150 ngày Kinh LượcSứ Ba Tỉnh Miền Tây Nam Kỳ, Vĩnh Long-An Giang –HàTiên, Phan Thanh Giản, Nhà Nho Ái Quốc và Vị TiếnSĩ đầu tiên của Miền Nam uống thuốcđộc quyên sinh, giao ba tỉnh này cho Pháp nhằm tránh nhữngthiệt hại cho người dân mà ông cho là vô ích. Hànhđộng này của ông đã bị triều đình Huếlên án nặng nề, cách tất cả mọi chứctước, đục bỏ tên trên bia tiến sĩ chomãi đến triều Vua Đồng Khánh mới đượcphục hồi.  Nhưng đếnnăm 1963 lại được các sử gia Miền Bắcmang ra đặt lại. Trước đó, năm 1945, Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Đại HọcĐông Dương tại Hà Nội, Phan Thanh Hòa, cháu bađời của Phan Thanh Giản, trong những ngày đầutiên của thời buổi đầy nhiễunhương sau biến cố 19 tháng 8 năm 1945, đã bịCông An Việt Minh công khai vào tận Đại Học Xá HàNội bắt đem đi mất tích.  Bài này được viết nhằmgóp phần vào việc tìm hiểu thêm về Nhà Nho đượccoi là tượng trưng cho tinh thần ái quốc củangười Việt Miền Nam Phan Thanh Giản, đồngthời cũng là để góp phần tìm hiểu về việcnghiên cứu và quan điểm về lịch sử dướichế độ Công Sản một thời ở MiềnBắc.

I.  Các Sử Gia Miền BắcNăm 1963, Trong Tập San NghiênCứu Lịch Sử, Đã Viết Gì về Phan Thanh Giản? 

Theo ý chúng tôi, trong việc bình luậnnhân vật lịch sử,

nhất là những nhân vậtnhư Phan-thanh-Giản, chúng ta cần

dựa vào quan điểm chủnghĩa Mác, đem yêu cầu của thời đại và

nguyện vọng của nhân dânđể soi vào hành động của người đó

sẽthấy rõ có công hay có tội, đáng làm gương hayđáng chỉ trích.

Tòa Soạn Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử

Quamột loạt bài được liên tiếp đăngtrong Tạp Chí Nghiên Cứu LịchSử xuất bản trong năm 1963 ở Hà Nội, mục“Bình Luận Nhân Vật Lịch Sử”, trường hợpcủa Phan Thanh Giản, nhà Nho miền Nam đầu tiênđậu tiến sĩ và là trọng thần của triềuđình nhà Nguyễn, người đã lãnh trách nhiệm kýkết hòa ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862nhường Ba Tỉnh Miền Đông Nam Kỳ cho Phápđã được đem ra mổ xẻ và cá nhân củanhân vật lich sử được người miềnNam nói chung và giới trí thức miền Nam kính mến nàyđã bị chỉ trích nặng nề.  Loạt bài này đã gây nên nhiềubất mãn cho những người có dịp đọcchúng ở cả hai miền Nam Bắc đương thờivà luôn cả sau ngày thống nhất dưới chếđộ Cộng Sản.  Nóđã đưa tới những vận động phụchồi danh dự và uy tín cho ông ở cả trong nướclẫn ngoài nước, điển hình là qua các cuộc hộithảo được tổ chức ở trong nướcvà các bài đăng trong các đặc san hay bản tin haycác lời phát biểu trên các đài phát thanh hay truyềnhình của các cựu học sinh và giáo chức củatrường Trung Học Phan Thanh Giản CầnThơ.  Nhiều ngườicòn muốn đi xa hơn nữa là đề nghị cáccơ quan liên hệ ở trong nước đem trườnghợp Phan Thanh Giản ký hòa ước 1862 nhượng BaTỉnh Miền Đông Nam Kỳ cho người Pháp đốichiếu với trường hợp Thủ Tướng PhạmVăn Đồng gửi văn thư cho Thủ TướngCộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Chu Ân Lai, công nhận lãnh hải mớicủa Trung Cộng vào năm 1958 như Viện Sử Họcvà Tập San Nghiên Cứu Lịch Sửđã làm hồi năm 1963.

Tổngcộng số bài người viết hiện có trong tay là8 bài.  Đầu tiên là bài PhanThanh Giản trong lịch sử cận đại ViệtNam của hai ông Đặng Huy Vận và Chương Thâu,đăng trong Nghiên Cứu LịchSử số 48, tháng 3 năm 1963, trang 12 - 17 và kếtthúc là bài tổng kết nhan đề “Chúng ta đã nhấttrí về việc nhận định Phan Thanh Giản” củaTrần Huy Liệu, đăng trong tạp chí này, số 55,tháng 10 năm đó.  Loạtbài này đã được viết theo chiều hướngnào và Phan Thanh Giản đã được nhận địnhhay đúng hơn bị lên án như thế nào? Ta hãy đọcphần gợi ý của tòa soạn Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử và nộidung của các bài, đặc biệt là bài tổng kết củaTrần Huy Liệu.

Mởđầu cho loạt bài bình luận này, tòa soạn Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử đã đưa ra nhữnggợi ý đăng trên đầu của bài viết củahai ông Đặng-Huy-Vận và Chương-Thâu với phầnchính nguyên văn như sau:

Theoý chúng tôi, trong việc bình luận nhân vật lịch sử,nhất là những nhân vật như Phan-thanh-Giản, chúngta cần dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác,đem yêu cầu của thời đại và nguyện vọngcủa nhân dân để soi vào hành động củangười đó sẽ thấy rõ có công hay có tội,đáng làm gương hay đáng chỉ trích.  Chúng ta có thể nhìn vào nhiều mặtnhưng bao giờ cũng phải nhắm vào mặt chính củanó.  Nhất là không thể chiềutheo tình cảm riêng hay chỉ nhìn vào đạo đứctư cách cá nhân mà phải nhìn vào sự việc cụ thểđể đánh giá cho đúng. Một khi đã có nhữngkiến giải rõ ràng rồi thì đối với đốitượng mà mình phê phán cần có thái độ dứtkhoát.

Khôngcần phải đọc chi tiết các bài đượcđăng sau đó, chỉ cần đọc kỹ nhữnglời lẽ trên đây của tòa soạn, mà ngườiđọc phải hiểu đó là những lời khuyếncáo nếu không nói là mệnh lệnh người viết phảitheo, vì Nghiên Cứu Lịch Sửlà cơ quan chính thức của chính quyền Cộng Sảnmiền Bắc đương thời đượcđiều khiển bởi Trần Huy Liệu, nguyên Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyềntrong chính phủ Hồ Chí Minh trước đó.  Người viết muốn có bàiđược đăng không thể không theo những lờigợi ý này.  Phan Thanh Giảnngay từ khi các tác giả mới quyết định cầmbút đã bị lên án và bị xỉ nhục một cáchkhông nhân nhượng theo đúng ý muốn của tòa soạn.  Các nhan đề của các bài viếtbằng cách này hay cách khác đã phản ảnh rõ rệt chiềuhướng đã được vạch sẵn này.  Sau bài của các ông Đặng HuyVận và Chương Thâu với nhan đề mang tính cáchchung chung không dứt khoát đã dẫn, các bài khác mập mờcho thấy trước nội dung như  “Cần nhận định vàđánh giá Phan Thanh Giản như thế nào?” của ĐặngViệt Thanh,  “Đánh giá PhanThanh Giản như thế nào cho đúng?” của NguyễnKhắc Đạm và của Trương Hữu Ký, hai bàiriêng biệt, có những bài đã lựa chọn nhan đềphản ảnh một sự dứt khoát ngay từ đầunhư bài  “Cần nghiêm khắclên án Phan Thanh Giản” của Chu Quang Trứ và bài “Cần vạchrõ hơn trách nhiệm của Phan Thanh Giản trướclịch sử” của Nhuân Chi hay Nhuận Chi (?).  Tất cả đã giúp cho TrầnHuy Liệu đưa ra kết luận cuối cùng “Chúng tađã nhất trí về việc nhận định PhanThanh Giản” khi ông viết:

Từkhi Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử đề ra việcbình luận một số nhân vậtlịch sử, qua Hồ-quý-Ly,Nguyễn-trường-Tộ, Lưu-vĩnh-Phúc cho đếnPhan-thanh-Giản, không lần nào bằng lần này, nhữngbạn tham gia cuộc thảo luận, mặc dầu có nhữngkhía cạnh khác nhau, những về căn bản đềunhất trí ở chỗ kết án tội nhân của lịch sử. (Phạm Cao Dương đánh lớn và đậmnăm chữsau này).

 Chưa cho là đủ, Trần HuyLiệu còn ghi thêm:

Mộtđiều nữa cũng đáng chú ý là: trong số ngườigửi bài tới tham gia thảo luận lên án Phan-thanh-Giảncó đông đủ cả các bạn miền Bắc và miềnNam. Thì ra, nếu chúng ta xuất phát từ một lậptrường giống nhau thì chúng ta sẽ đi đếnmột kết luận giống nhau.

Vậythì qua loạt bài kể trên và căn cứ vào bài tổng kếtcủa Trần Huy Liệu, Phan Thanh Giản đã bị kếtán về những tội gì và không thể đượckhoan nhượng ở những điểm nào? Khoan nhượnglà vì có nhiều tác giả cho rằng Phan Thanh Giản là mộtnhà Nho đạo đức, hết lòng vì dân vì nước,sáng suốt, có bụng thương dân, đã chọn cái chếtriêng cho mình để tránh một cuộc chiến tranh vô vọngcho dân tộc

Cũngtheo Trần Huy Liệu, có hai tội chính và hai điều bấtkhả nhân nhượng:

Haitội chính là:

Thứnhất:  Trong khi những nhânsĩ yêu nước trong giai cấp phong kiến và đôngđảo nhân dân kiên quyết đánh Tây để giữlấy nước, thà chết không làm nô lệ thì Phantrước sau vẫn theo chiều hướng đầuhàng, từ ký nhượng ba tỉnh miền Đông đếnký nhượng ba tỉnh miền Tây, Phan trước sau vẫnrơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lạinguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc,của nhân dân.

Thứhai:  Trong lúc quân giặc bắtđầu dày xéo lên Tổ quốc, bao nhiêu văn thân,nghĩa sĩ, hào lý cùng các tầng lớp nhân dân đềulao mình vào cuộc giết giặc cứu nước, bàiphú “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh” vang lên,vậy mà riêng Phan-thanh-Giản ba lần dụTrương-Định bãi binh, bốn lần làm môi giớicho Pháp, đưa thư của giặc cho Trương vàkhuyên nhân dân không nên bội nghịch với giặc.

Haiđiều bất khả nhân nhượng là:

Thứnhất:  Không thể chỉnhìn vào tư đức (không có dấu huyền - chữ củaTrần Huy Liệu) của Phan-thanh-Giản để có thểchiếu cố và thông cảm cho ông được mà phảinhìn vào công đức (cũng chữ của Trần Huy Liệu)của ông. Ở vào thời thế nước ta hồi ấy,mọi người công dân còn có cái đạo đứcnào cao hơn là là yêu nước thù giặc, hy sinh quên mình,đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trái lại,còn có cái gì xấu hơn là theo giặc, chống lại cáchmạng (?), phản lại quyền lợi tối cao củaTổ quốc. Đối với Phan-thanh-Giản, côngđức như thế là đã bại hoại rồi; màcông đức đã bại hoại thì tư đức còn gì đáng kể? (nguyên văn lờiTrần Huy Liệu).

Thứhai:  Vềcái chết của Phan Thanh Giản, theo Trần Huy Liệuthìchủ trương của Phan đã dẫn Phan đếnchỗ bế tắc mà chỉ có thể kết cục bằngmột cái chết. Nói một cách khác, cái chết củaPhan là tất nhiên, là rất biện chứng trong chỗ bếtắc của Phan (...). Nói rằng Phan chết để giữtrọn tiết nghĩa chăng? Thì, cái sống của Phanvới dân, với nước đã mất hết tiếtnghĩa rồi, còn nói gì cái chết. Nói rằng Phan chếtđể giữ trọn đạo lành (tử thủ thiệnđạo) hay làm nên điều nhân (sát thân thành nhân) theo câuchâm ngôn của nho giáo mà Phan là một tín đồ chăng?Thực ra, cái chết của Phan, khác với cái hy sinh củacác bậc nghĩa liệt khác, không phải để giữđạo lành cho đến chết, cũng chẳng phảiliều chết để làm nên một điều nhân vìcái gọi là đạo lành, là điều nhân lúc đó chínhlà giết giặc cứu nước, là theo nguyện vọngcủa nhân dân; trái lại là đạo dữ, là bấtnhân, là phản bội. Thôi, chúng ta hãy làm một việc ngaythẳng là trả cái chết của Phan-thanh-Giản lạicho Phan-thanh-Giản, cái chết do chính tác giả tạo ra,qua một quá trình dài lâu dẫn đến chỗ không lốithoát. Dầu sao, cái chết của Phan cũng chỉ có thểchấm dứt con đường bế tắc củaPhan, chớ không thể xóa được tội danh củaPhan trước tòa án dư luận nhân dân và lịch sử.

Bâygiờ ta hãy duyệt qua những bài đã đượcđăng.

Trướchết là bài của Đặng Huy Vận và ChươngThâu.  Người viết khôngcó dịp đọc nhiều bài khác của Đặng HuyVận, nhưng Chương Thâu là một tác giảrất quen thuộc đối với những ai từngtheo dõi các hoạt động của các nhà Nho trong các phongtrào Đông Du và Duy Tân. Chương Thâu đã viết nhiều về các phongtrào này, đặc biệt là về Phan Bội Châu.  Có lẽ vì vậy ông và ĐặngHuy Vận đã được lựa chọn để mởđầu cho cuộc bình luận hay đúng hơn đánhgiá lại này.  Một sự lựachọn có thể có tính cách chiến thuật đểngười theo dõi cả loạt bài sau đó có cảmtưởng rằng đây là một cuộc bình luận vôtư và rộng rãi.  Nói nhưvậy vì bài của hai ông có vẻ bao quát và chuyên môn, kểcả khi hai ông lên án Phan Thanh Giản.  Nói như vậy là vì bài củahai ông tương đối đầy đủ nhấtcho loại bài này.  Nó tóm tắttoàn bộ những chi tiết liên hệ tới cuộcđời và sự nghiệp của Phan Thanh Giản từthuở thiếu thời cho đến những ngày cuốiđời của ông và đã nhìn ông qua mọi khía cạnh,cả công lẫn tư; nói theo Trần Huy Liệu cảcông đức lẫn tư đức.  Các tác giả này cũng dùng nhiềutài liệu hơn các tác giả khác. Có điều phần quy trách nhiệm làm mấtnước cho Phan Thanh Giản vẫn là chính.   Trong phần này, sau khi đã bàibác tất cả các quan điểm của các tác giảngười Pháp cũng như người Việt thờitrước đó như Châtel, Lê Thành Trường, Tam Thanh và Hoành Hải, NamXuân Thọ...,  mà hai ông cho rằng“chỉ nhằm mục tiêu chính trị hay chỉ mớinói một mặt mà không nhìn thấy mặt hậu quảtai hại của những hành động đầy thiệný ấy của Phan-thanh-Giản, các ông đã không nhìn thấymặt trách nhiệm to lớn như thế nào củaPhan-thanh-Giản trong việc cắt đất nhườngcho Pháp.  Phan trước sứcuy hiếp của giặc đã đang tay ký hòa ước1862 với giặc. Quê cha đất tổ bị bầyquỷ dữ giày xéo? Phan-thanh-Giản bị nhân dân cả nước lên ánvà phản đối mọi hành động chủ hòa củatriều đình và của chính Phan...Thế rồiPhan-thanh-Giản không chịu lo chuẩn bị đềphòng chống Pháp mà để cho giặc lấn dần,để đến nỗi trong bốn ngày từ 21-6đến 25-6-1867, chúng lấy luôn cả ba tỉnh miềnTây”.

Vềcái chết của Phan Thanh Giản, Đặng-Huy-Vậnvà Chương-Thâu cho rằng nó đã chứng tỏ sựbất lực hoàn toàn đối với lòng tin cậy củatriều đình và cũng để tỏ cho nhân dân rằngmình đã sai lầm và chịu tội trước nhân dân.

Khácvới các tác giả khác, Đặng-Huy-Vận vàChương-Thâu đã dùng cả nửa bài phía sau đểca tụng phần tư đức của Phan Thanh Giản.  Hai ông đã dùng các thơ văn, sớtấu của chính Phan Thanh Giản, của NguyễnĐình Chiểu và của các nhà khảo cứu thờitrước hai ông hay của các tác giả miền Nam, luôn cảnhững lời truyền tụng trong dân gian... đểmô tả cuộc sống hết lòng vì vua, vì dân, vì nước,luôn luôn đi sát với quần chúng bình dân và đạođức của Phan Thanh Giản. Có điều trong khi trở lại xét thêm nhữngcông trạng và đức tốt của Phan-thanh-Giảnđối với nhân dân để thấy rõ hơn vì saoPhan đáng được nhân dân khoan dung và trân trọng thìhai ông đã qui hết tội cho triều đình Huế vàcho rằng triều đình Huế là tội phạm chính củaviệc để mất đất mất nước, bỏdân bỏ nước để chỉ lo khư khư giữlấy cái ngai vàng đã mọt ruỗng và quyền lợibẩn thỉu của chúng.  LờiPhan Thanh Giản căn dặn thân nhân ghi trên mộ ôngđã được hai tác giả này coi là đã phảnánh đúng đắn tinh thần khiếp nhược và nỗichán chường của ý thức hệ phong kiến đếnngày suy tàn thảm hại.

Đúngnhư Trần Huy Liệu nhận định trong bài tổngkết của ông: Trong quá trình thảo luận, hai bạnChương-Thâu và Đặng-huy-Vận, trong chỗ khôngngờ, đã trở nên đối tượng cho mộtloạt súng bắn vào chỉ vì hai bạn còn có chỗchưa dứt khoát về tình cảm với họ Phan!

Nhữngbài được đăng tiếp theo đã nêu rõ nhữngđiều mà họ cho là chưa dứt khoát này và đi sátvới những chỉ dẫn trong phần gợi ý củaTòa Soạn Tạp Chí Nghiên CứuLịch Sử hơn.  Khôngcần phải đi sâu vào nội dung, chỉ cần đọccác nhan đề sau đây của các bài viết ngườita thấy rõ ngay phản ứng chiều hướng phảnứng này:

“Cầnnhận định và đánh giá Phan-thanh-Giản như thếnào?” (Đặng-việt-Thanh)

“Đánhgiá Phan-thanh-Giản như thế nào cho đúng?” (Nguyễn-khắc-Đạm)

“Cầnnghiêm khắc lên án Phan-thanh-Giản” (Chu-quang-Trứ)

“Cầnvạch rõ hơn nữa trách nhiệm của Phan-thanh-Giảntrước lịch sử” (Nhuận Chi)

“Đánhgiá Phan-thanh-Giản thế nào cho đúng?” (Trương-hữu-Ký)

Cáccâu hỏi được đặt ra nhưng câu trả lờiđã có sẵn trong lời tòa soạn Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử “là phảinhìn vào mặt chính của vấn đề, phải nhấttrí, phải dứt khoát, không thể nhìn vào mọi mặtđể kết luận nước đôi, nửa vời,không dứt khoát”. Nhuận-Chi nói thẳng ra rằng đó làvấn đề quan điểm, vấn đề lậptrường.  Vềphương pháp cũng vậy, Nhuận-Chi tán thành ý kiếncủa Tòa soạn tạp chí NghiênCứu Lịch Sử là “trong việc bình luận nhân vậtlịch sử,...chúng ta cần dựa vào quan điểm chủnghĩa Mác, đem yêu cầu của thời đại vànguyện vọng của nhân dân để soi vào hành độngcủa người đó sẽ thấy rõ có công hay có tội...”(đã dẫn).   Kết quảcuộc bình luận do đó có thể đượcđoán biết từ trước và Trần Huy Liệuđã coi đó là “một sự thành công vì  không lần nào bằng lần này,những bạn tham gia cuộc thảo luận, mặc dầucó những khía cạnh khác nhau, nhưng về căn bảnđều nhất trí ở chỗ kết án tội nhân của lịch sử”.

Vìphải dựa theo Mác và trên quan điểm giai cấpđấu tranh, sau khi đã kết tội Phan Thanh Giản,các tác giả còn đi xa hơn nữa là kết án toàn thểphe chủ hòa ở triều đình Huế đươngthời, đứng đầu là vua Tự Đức màPhan Thanh Giản, theo Đặng-Việt-Thanh, chỉ làngười  tiêu biểu củaphái đầu hàng ở trong giai cấp phong kiến muốncứu vãn quyền lợi của giai cấp mình bằngcách thỏa hiệp với thực dân.Lý luận theo chiềuhướng này, để buộc tội Phan Thanh Giản,Nguyễn-Anh kết luận: “Phan Thanh Giản hành động không phải vì mộtđộng cơ yêu nước thương dân lành mạnhtiến bộ.  Là con đẻcủa triều đình phong kiến thối nát nhà Nguyễn- bộ phận đầu não của giai cấp phong kiếnsuy tàn phản động - mang trong người ý thức hệtư tưởng của giai cấp mình - Phan đã luôn luônlo lắng và hành động vì cái dân cái nước củatriều đình nhà Nguyễn đầu hàng.  Cho nên việc cắt đấtcho giặc và cái động cơ của Phan hoàn toàn thốngnhất với nhau, nó sẽ dẫn đến một kếtquả tất nhiên là nhượng bộ đi đếnđầu hàng giặc”. Lập luận này, cộng thêm nhữnggì tác giả này (Nguyễn-Anh) viết ở cuối bài có thểcho người ta thấy phần nào mục tiêu  của loạt bài bình luận.  Mục tiêu đó là “tác dụngtích cực trong giai đoạn hiện nay”.  Nguyên văn của đoạn nàynhư sau:

Hoàncảnh lịch sử ngày nay và ngày xưa - thờiPhan-thanh-Giản - tuy có nhiều điểm khác nhau,nhưng có một điểm giống nhau là ngày trướcnhân dân Nam Kỳ đứng lên kháng chiến chống xâmlược bước đầu của giặc Pháp, vàngày nay, cũng trên mảnh đất Nam-bộ mến yêu,nhân dân miền Nam ruột thịt của chúng ta dang anhdũng chống bè lũ Mỹ-Diệm để hoàn bình thốngnhất đất nước. Việc nghiên cứuđánh giá Phan-thanh-Giản không phải chỉ là tìm hiểusự thật về công tội của Phan mà còn có mộtý nghĩa, một tác dụng tích cực trong giai đoạnhiện nay. Lịch sử mãi mãi ghi nhớ và ca tụng nhữngngười con của Tổ quốc đã đấu tranhquên mình vì dân vì nước và cũng mãi mãi phê phán bất cứai đi ngược lại nguyện vọng của nhândân, ngăn cản bước tiến của lịch sử.

Nhưnglàm sao biết được nguyện vọng của nhândân thời Phan Thanh Giản và nếu có thể đi xahơn cho đến thời Mỹ -Diệm?  Nhân dân là ai, những dữ kiệnnào, những thống kê nào cho phép người khẳngđịnh như vậy? Trần Huy Liệu và các tác giảcủa những bài bình luận này đã căn cứ vào nhửngcâu nói, những bài thơ hầu hết bằng chữ Hánhay chứa rất nhiều chữ Hán, những bài vè, vào cuộckháng chiến của Trương Định để quảquyết là nhân dân thời đó đều một lòng chốngPháp.  Như vậy có đủhay không? và sau này vào thời điểm các bài bình luậnnày được viết và được đăngtrong Nghiên Cứu Lịch Sửlà “ngày nay  nhân dân miền Nam ruộtthịt của chúng ta đang anh dũng chống bè lũ Mỹ-Diệmđể hòa bình thống nhất đất nước,coi như  là cuộc chốngđối này được phát động bới chínhđồng bào miền Nam không dính dáng gì với miền Bắc?”  Các tác giả này sẽ nghĩ saokhi có dịp đọc ThưVô Nam của Lê Duẩn với dòng ghi chú dưới ảnhchụp của ông là “Đồng chí Lê Duẩn hồi còn hoạtđộng ở trong Nam (1954- 1956)”?  Cũng vậy với lối giảdụ rằng nếu Phan Thanh Giản dựa vào nhân dân,theo ước vọng của nhân dân thì sẽ đánhđuổi được quân Pháp người ta sẽnghĩ sao khi để ý tới thái độ củangười dân ở miền Bắc, đặc biệt làở Nam Định khi quân Pháp đánh ra Bắc về saunày.  Cũng vậy với sựkết án Phan Thanh Giản là đã không thông hiểu nhữngkhó khăn của người Pháp và của riêng Bonard khiđiều đình khi ký hòa ước.  Làm sao Phan Thanh Giản một thếkỷ trước có thể có được những kiếnthức của những người học và bình luậnlịch sử của một trăm năm sau, năm 1963?

Kếttội như trên chưa được coi là đủ vàdứt khoát, Nguyễn-khắc-Đạm trong bài “Đánhgiá Phan-thanh-Giản như thế nào cho đúng?” đã đặtra những nghi vấn về sự thanh liêm của Phan ThanhGiản về lòng yêu nước, thương dân và vềtinh thần coi nhẹ cái chết của ông với nhữngcâu trả lời là không.

Vềsự thanh liêm của Phan Thanh Giản, một sự thanhliêm từ vua Tự Đức đến các nhân vật lịchsử đương thời và các nhà nghiên cứu khác cảViệt lẫn Pháp đều ghi nhận, Nguyễn KhắcĐạm dựa vào hai chi tiết để đặtthêm các câu hỏi về ông.  Chitiết thứ nhất được Pierre Daudin (?) chéptrong “Phan-thanh-Giản et sa famille d'après quelques documentsannamites”, xuất bản năm 1941 là các con Phan-thanh-Giảntrong bài điếu mẹ có viết là năm 1861, khi Pháp lấyĐịnh- Tường, quan quân ta phải chạy qua làngcó vợ Phan-thanh -Giản đang ở đó.  Thấy tình cảnh quan quân thiếuthốn, bà Phan-thanh-Giản đã lập tức lấy khoảngnăm sáu trăm quan tiến riêng ra phân phát cho họ.   Nên nhớ là lúc đó Phanđương ở Huế, còn vợ thì ở làng vớicác con. Chi tiết thứ hai là “Tên Ăng-sa (Ansart) chủ tỉnhMỹ-tho viết là trước khi chết, Phan có ngỏ ýgửi hắn vài ngàn phơ-răng để lâý tiền nuôi dưỡng giúp các cháuPhan tại Sài-gòn”.  (Nguyễn-khắc-Đạmđã căn cứ vào lời của Thiếu Tá Ansart gửicho Tham Mưu Trưởng Reboul trong thư đề ngày 4tháng 8 năm 1867, viết từ Vĩnh Long, đượcin trong La Geste Francaise en Indochinecủa Taboulet, Paris,Adrien-Maisonneuve, tome II, 1956, tr. 519-520 - Phạm Cao Dươngchú thích)

 Những số tiền này đãđược ông Đạm chứng mình bằng vậtgiá thời đó và lương của các quan và cho là khá lớnvà đặt câu hỏi làm sao vợ Phan và bản thân Phan cóthể có ngay được?

Vềchuyện Phan Thanh Giản coi nhẹ cái chết và tự kếtkiễu đời mình, Nguyễn-khắc-Đạmcũng căn cứ vào lời của Thiếu Tá Ansart gửicho Tham Mưu Trưởng Reboul (thư dẫn trên, PhạmCao Dương chú thích), là cuối cùng khi các quan lại ViệtNam đã về hết chỉ còn người Pháp thì PhanThanh Giản đã nhận sự chữa chạy củangười Pháp và đặc biệt Phan Thanh Giảnđã hỏi Linh Mục Marc: “Thế nào tôi có thể thoát được không?” (Nguyễn-Khắc-Đạmdịch và in đậm). Từ đó ông Đạm kếtluận rằng: Phan Thanh Giản đã tỏ vẻ thiếttha được sống lại với người Pháp và “Điều đó càng soi sáng thêmchiều hướng xuống dốc về tư tưởngcủa Phan hơn nữa”.

Trênđây là tóm tắt những gì người viết cho làchính yếu của loạt bài bình luận về Phan Thanh Giảnđăng trên Tạp Chí NghiênCứu Lịch Sử vào năm 1963.  Sự tóm tắt này chắc chắnlà còn nhiều thiếu sót.  Nóchỉ nhằm giúp cho những ai chưa có hay không có dịpđọc loạt bài này có một ý niệm về nộidung và cách nhìn của các nhà viết sử và bình luận sửmiền Bắc Việt Nam đương thời (thời1963) về vị Tiến Sĩ Nho Học đầu tiên củamiền Nam này, coi như những lý do chính yếu củaphong trào đòi phục hồi danh dự cho ông trong nhữngnăm gần đây.  Trong khitóm tắt người viết đã giảm thiểu nhữngnhận định riêng của mình đến mức tốiđa nhưng đây không phải là một việc dễlàm.  Điều tốt nhấtcho người đọc là tìm đọc nguyên bản.  Riêng về những giả thuyếtliên hệ tới sự thanh liêm của Phan Thanh Giản vànhững giờ phút cuối cùng của đời ông,người viết sẽ xin trở lại trong mộtbài khác.  Cuối cùng khi viếtvề sự kiện Phan Thanh Giản tuẫn tiết này,người viết có mở tác phẩm Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử(1858-1918) của tác giả Dương Kinh Quốc do ViệnSử Học Việt Nam và Nhà Xuất Bản Giáo Dục xuấtbản năm 2001, để tra cứu thêm nhưng chỉthấy ghi chuyện quân Pháp đánh chiếm các tỉnhVĩnhLong, An Giang, Hà Tiên và Thiếu Tướng  Hải Quân, Tổng Chỉ Huy QuânĐội Viễn Chinh Pháp tuyên bố: Toàn bộ 6 tỉnhNam Kỳ là lãnh địa của Pháp, kể từ nay triềuđình Huế không còn quyền lực gì đối vớiNam Kỳ Lục Tỉnh nữa. Suốt sáu trang từtrang 65 đến trang  70 dànhcho các sự kiện xảy ra trong năm 1867, không thấyghi gì về sự kiện vị tiến sĩ đầutiên của Miền Nam này uống độc dượcquyên sinh cả.  Câu hỏiđược đặt ra là tại sao Tác GiảDương Kinh Quốc lại bỏ quên sự kiện vôcùng quan trọng này.  Phảichăng là vì sơ ý hay vì ông đã cố tình tránh né không nóitới để khỏi bị phiềnphức?

II.  Chuyện Chủ Tịch TổngHội Sinh Phan Thanh Hoà Bị Công An Việt Minh Bắt MangĐi Mất Tích.

  Cuối cùng, viết về PhanThanh Giản, người ta không thể không nói tới nhữnghậu duệ của ông, những người đượcbiết tới là vì là con cháu, dòng dõi ông, đồng thờicũng là những người ít nhiều lãnh chịu nhữnghậu quả của việc ông làm, dù là vinh quang hay nặngnề mạt sát. Ở đây người viết muốnđề cập tới hai vị  thuộc tiền bán Thế Kỷ  20 của nhà chí sĩ này.  Đó là hai anh em Ông Phan Thanh Hòa vàBà Phan Thị Bình.   Phan Thanh Hòalà dòng dõi đời thứ ba của Cụ Phan.  Vào thời giữa thập niên1940 Phan Thanh Hoà từ trong Nam ra Hà Nội “du học” cùng vớimột số đông sinh viên Nam Kỳ, trong đó có nhữngngười nổi tiếng như Lưu Hữu Phước,Mai Văn Bộ, Nguyễn Tôn Hoàn, Huỳnh Văn Tiểng,Nguyễn Tăng Nguyên...  Ông họcngành Nha Khoa Đại Học Đông Dương ở Hà Nội.  Năm 1945, khi xảy ra nhữngbiến cố 19 tháng 8 làm thay đổi toàn bộ lịchsử và cuộc sống của người dân trên đấtnước, Phan Thanh Hòa là Chủ Tịch Tổng Hội SinhViên của Đại Học này. Bà Phan thị Bình là em ruột ông.  Bà Bình nổi tiếng từnăm trước vì Bà là một trong hai người nữđầu tiên đã ca bài SinhViên Hành Khúc (Marche des Étudiants) của Lưu Hữu Phướctại Đại Giảng Đường của ĐạiHọc Hà Nội ngày 15 tháng 3năm 1942.  Người kia làBà Nguyễn Thị Thiều. Bà Phan Thị Bình, sau này là phu nhân của Bác Sĩ NguyễnTôn Hoàn, lãnh tụ của Đảng Đại Việt.  Bà Bình mới mất cách đâykhông lâu ớ miền Bắc California.  Chủ tịch Tổng HộiSinh Viên Đại Học Hà Nội Phan Thanh Hòa ngay sau ngàyChính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đượcthành lập đã bị Công An vào tận Đại HọcXá bắt trước mắt các sinh viên ở đây cùng vớimột sinh viên khác, ông Đặng Vũ Trứ, thuộcĐảng Đại Việt. Hai người bị mang đi mất tích.  Có tin đồn là họ bị đưasang giam ở một căn nhà ở Gia Lâm và bị ném lựuđạn giết chết. Riêng Bà Phan Thanh Bình thì theo lời Bà kể lại chongười viết bài này là Bà chỉ biết là anh bà khôngcòn nữa khi nhận ra cái áo len của anh Bà do một côngan mặc sau đó.  ChuyệnCông An công khai vô Đại Học Xá bắt Chủ TịchTổng Hội Sinh Viên đem đi mất tích đượcnhiều người chứng kiến sau này kể lạilà một chuyện lớn chắc chắn Bộ TrưởngNội Vụ Võ Nguyên Giáp, một cựu sinh viên TrườngLuật, người nắm toàn bộ an ninh trong nướclúc đó hiện diện ở Hà Nội, không thể nàokhông biết.  Tiếc rằngtrong hồi ký của ông, Tướng Giáp không hề nói tới.   Riêng Bác Sĩ Phan VănĐương, trong hồi ký,  ký tên Nguyễn Minh Hoài Việt,nhan đề “Nhớ Quê Hương”, đăng trên tờQuang Phục, xuất bảnở Houston, Texas, là một trong số những sinh viên cư ngụ trong ĐạiHọc Xá đương thờiđã viết về sự kiện này như sau:

ViệtMinh len lỏi vào hàng ngũ sinh viên, xâm nhập toà soạnbáo tự trị của Tổng Hội, gây mâu thuẫn giữasinh viên.  Hết phát xít Nhậtđàn áp, phá hoại, bây giờ lại đến bọnBôn-sơ-vích tạo ung thối từ bên trong. Trong thờigian dưỡng bệnh, tôi đọc lại báo chí cũđể am hiểu tình hình. Trong buổi giao thời, chínhphủ Trần trọng Kim một mặt cố gắng giớihạn can thiệp của người Nhật, mặt kháccố tạo một tình trạng thực tại “bấtkhả phản hồi” để chặn thực dân Phápđô hộ trở lại.

[…]Đau đớn và đáng phỉ nhổ hơn là mộtcuộc họp mặt của các trí thức danh tiếng miềnBắc tại Việt Nam Đại Học Xá ngày 22 tháng 8:một công điện được đánh đi từHà Nội yêu cầu Hoàng Đế Bảo Đại thoái vịđể nhường quyền cho một chính phủ mới.Công điện mang chữ ký của Nguyễn Xiển, NguyễnVăn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường (đúng hơn là Hồ HữuTường, tác giả Phan Văn Đương ghi lầm),Ngụy Như Kontum, nhữngkhoa bảng, xuất thân từ các trường đạihọc của Pháp.[………]

Trongkhi chúng tôi, một số sinh viên đang âm thầm cổđộng trong Việt Nam Học Xá sự chống đốiviệc yêu cầu Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị,thì anh đương kim chủ tịch Tổng HộiSinh Viên Việt Nam có một thái độ tích cựchơn.  Đứng trên diễnđàn, trước một đám đông, chủ tịchPhan Thanh Hoà tuyên bố: “Phải để nguyên Hoàng Đếtại vị.  Tôi không biếtmiền Trung và miền Bắc phản ứng ra sao nhưngtôi biết chắc là miền Nam nhất định khôngtheo Cộng Sản.  Hoàng đếthoái vị, miền Nam sẽ ly khai.” Anh Phan Thanh Hòa là mộtsinh viên gốc Vĩnh Long, cháu ba đời cụ Phan ThanhGiản.  Anh học ngành nhakhoa, rất sành về âm nhạc có uy tín nhiều trong giớisinh viên, nên được anh em sinh viên ba kỳ bầu lênlàm chủ tịch thay thế anh Phạm Thành Vinh khi anh này bịbắt.  Tính anh Hoà rất bộctrực, nóng nảy, tranh đấu chống Việt Minhquyết liệt, từ đó ít lâu anh bị bắt và mấttích luôn. 

Tôiđang phẫn nộ và lo buồn về việc mấynhà “đại trí thức khoa bảng” họp tại ViệtNam Đại Học xá đánh điện vào Huế yêu cầuHoàng Đế thoái vị thì vài ngày sau đó đượctin Vua Bảo Đại chấp nhận từ bỏ ngôibáu.  Tuyên cáo thoái vị củanhà vua làm tôi vô cùng xúc động, không cầm đượcnước mắt.